Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ - ST.

Ngày: 24 - 6 - 2024.

- “V/v không công nhận quan hệ vợ chồng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Duy Tân.
  2. Ông Lê Hoàng Điệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp M, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Bị đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Văn T trình bày: Vào năm 1993, ông T và bà Đ kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, ông T và bà Đ sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã và đã ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nay ông yêu cầu không công nhận mối quan hệ của ông với bà Trần Thị Đ là vợ chồng.

Trong quá trình chung sống, ông T và bà Đ có hai người con tên là Trần Thị L, sinh ngày 20/02/1994 và Trần Thị L1, sinh ngày 24/02/2003. Nay các con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Đ không có ý kiến hay văn bản trả lời cho Tòa án.

Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự

- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình của Quốc H; điểm b mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về hôn nhân: Không công nhận mối quan hệ giữa ông Trần Văn T và bà Trần Thị Đ là vợ chồng.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng các con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Đ mặc dù đã được Tòa án tống T hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Trần Thị Đ.

Bên cạnh đó, ông Trần Văn T vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Trần Văn T.

[2] Về hôn nhân: Ông Trần Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án không công nhận mối quan hệ giữa ông với bà Trần Thị Đ là vợ chồng. Xét yêu cầu của ông Trần Văn T Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Trần Văn T và bà Trần Thị Đ chung sống với nhau vào năm 1993 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Đối chiếu với điểm b mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình quy định “Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng” và tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình của Quốc H quy định “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng” nên đối chiếu điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình của Quốc H; điểm b mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử không công nhận mối quan hệ của ông T và bà Đ là vợ chồng.

[3] Về con chung: Trong thời gian chung sống ông Trần Văn T xác định trong thời gian chung sống ông và bà Đ có hai người con chung tên Trần Thị L, sinh ngày 20/02/1994 và Trần Thị L1, sinh ngày 24/02/2003. Xét thấy, các con đã thành niên và ông Trần Văn T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình của Quốc H; điểm b mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận mối quan hệ giữa ông Trần Văn T và bà Trần Thị Đ là vợ chồng.
  2. Về con chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng các con đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  3. Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  4. Về nợ chung: Trong quá trình chung sống ông Trần Văn T cho rằng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003531 ngày 25/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông Trần Văn T đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Trần Thị Đ không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - UBND xã Mỹ Phước;
  • - Chi cục T.H.A DS huyện Mỹ Tú;
  • - Tòa án tỉnh Sóc Trăng (PKTNV và THA);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (HS, VP).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Dương Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ - ST. ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger