Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 43/2024/HSST

Ngày: 24/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lại Thị Thúy Hằng
  2. Ông Lê Đức Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST - HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979 tại Bến Tre.

Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979 tại Bến Tre. Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1958 (còn sống) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959 (còn sống); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Họ và tên chồng: Lê Văn T1, sinh năm 1979 và có 01 người con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2023 và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C.

( bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: tổ H, ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 (có mặt).
  2. Địa chỉ: tổ I, ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  3. Nguyễn Thị N, sinh năm 1959 (có mặt).
  4. Địa chỉ: tổ H, ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  5. Ông Trần Văn D, sinh năm 1957 (có mặt).
  6. Địa chỉ: ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

  7. Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  8. Địa chỉ: khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2020, bị cáo T được bố mẹ là ông Trần Văn D, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959 ngụ tại: ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai cho tặng thửa đất số 142, tờ bản đồ số 38, có diện tích là 4448.5 m² tọa lạc tại ấp H, xã S, huyện C và được sang tên đứng chủ sở hữu quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên vào ngày 18/6/2020. Do T không có hộ khẩu tại huyện C nên T chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho Nguyễn Thị H, sinh năm 1985, ngụ tại: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai đứng tên để nhờ H thế chấp vay Ngân hàng cho T với số tiền 350.000.000 đồng. Để cho bố mẹ yên tâm và không biết việc T thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng nên T đã lên mạng xã hội facbook tìm và liên hệ với tài khoản facbook có tên người dùng là “Đọc Bước” để đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên với giá khoảng 5 triệu đồng. Khoảng một tuần sau, T nhận được 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 38 và T cất giữ ở nhà.

Do có nhu cầu muốn bán thửa đất trên nên ngày 24/5/2021, T đã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất lại cho ông Trần Văn D để hợp thửa. Sau đó, thửa đất số 142 được hợp thửa với thửa đất 72 và 79, tờ bản đồ số 38, rồi được tách thành 03 thửa 195, 196 và 197, tờ bản đồ số 38. Trong đó: Thửa đất số 195, tờ bản đồ số 38 do ông Trần Văn D đứng tên; thửa đất số 196, tờ bản đồ số 38 do bà Nguyễn Thị N đứng tên. Đối với thửa đất số 197, tờ bản đồ số 38 thì Nguyễn Ngọc T đã chuyển nhượng cho Phùng Thị Thanh T2 với giá 1.200.000.000 đồng. Sau đó, T sử dụng số tiền này để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Để bố mẹ in tâm và không biết việc T đã sử dụng hết số tiền trên, T đã thuê người làm giả 01 thẻ tiết kiệm Ngân hàng V với số tiền là 01 tỷ đồng.

Đến cuối tháng 4/2022, T hỏi vay của Nguyễn Thị Á, sinh năm 1982, ngụ tại: ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai số tiền 60.000.000 đồng. Chị Á yêu cầu phải có tài sản để thể chấp đảm bảo khoản vay thì mới cho vay. Lúc này, T nảy sinh ý định dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 38, có diện tích là 4448.5 m² tọa lạc tại ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai để thế chấp cho Á nên T nói với Á là T sẽ thế chấp cho Á giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền. Nghe vậy, Á đồng ý cho T vay với lãi xuất 3%/tháng. Sau đó, Á gọi T đến nhà để giao số tiền cho vay và nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp. Tuy nhiên, thời điểm này T đang ở Bến Tre nên đã nhờ Nguyễn Thị H đến gặp Á lấy số tiền vay là 60.000.000 đồng. Đến ngày 02/5/2022, T mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ số 38, đến thế chấp cho Á, đồng thời viết 01 giấy tay thể hiện việc T mượn 60.000.000 đồng của Á. Đến ngày 20/11/2023, Nguyễn Thị H bị Cơ quan điều tra tạm giữ về hành vi “Sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức”, T lo sợ hành vi sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của mình bị phát hiện nên ngày 21/11/2023, T mang theo 60.000.000 đồng trên đến nhà Á trả nợ để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đã thế chấp.

Tuy nhiên, khi nhận tiền của T, Á phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà T đưa cho mình là giả nên đã báo Cơ quan Công an.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận: T không có nhu cầu vay tiền, việc vay số tiền 60.000.000 đồng của Nguyễn Thị Á là T đứng ra để vay cho Nguyễn Thị H. Đồng thời, thẻ tiết kiệm Ngân hàng V cũng do H là người đã làm giả cho T để T tạo niềm tin cho bố mẹ T. Tuy nhiên, H không thừa nhận cho nên lời khai của T là không có cơ sở.

Tại Bản kết luận giám định số 2812/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

  1. Hình dầu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh C1 trên tài liệu mẫu cần giám - định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh C1 tương ứng trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  2. Chữ ký mang tên Nguyễn Ngọc T3, Đinh Văn Ú, Đinh Văn P trên tài liệu mẫu cần giảm dịnh (ký hiệu A) so với chữ ký mang tên Nguyễn Ngọc T3, Đinh Văn Ú, Đinh Văn P tương ứng trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) không phải do cùng một người ký ra.
  3. Bản in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với bản in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M3) không phải do cùng một phương pháp in, không phải do cùng một bản in in ra.

* Về vật chứng vụ án:

  • 01 Giấy chứng nhận quyền sử đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số: CG 054821, mang tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Ông: Hoàng Hữu C và bà: Nguyễn Thị L1, đề ngày 22/12/2016 do Nguyễn Thị Á giao nộp.
  • 01 thẻ tiết kiệm có kỳ hạn số thẻ 0892118, số CIF 00162486997 của Ngân hàng V - Chi nhánh Đ - Phòng G1 phát hành cho Nguyễn Ngọc T; số CMND: [...], ngày cấp CMND09/02/20211, nơi cấp: Công an tỉnh B, địa chỉ: thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; ngày phát hành 01/12/2021, ngày đến hạn: 01/12/2024: loại tiền: VND, kỳ hạn: 03 năm do Nguyễn Đình N1 ký.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng, số IMEI: 359093/38/549510/8. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Nguyễn Ngọc T, không liên quan đến hành vi phạm tội nêu trên. Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho Nguyễn Ngọc T.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh mà Nguyễn Ngọc T sử dụng để liên lạc và đặt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả với tài khoản facebook “Đọc Bước”. Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận: Năm 2021, chiếc điện thoại trên đã hư, T đã bán cho người thu mua ve chai không rõ nhân thân nên không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T đã trả lại số tiền 60.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Ánh . Chị Á đã nhận đủ và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Cáo trạng số 44/CT- VKS – CM ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm d khoản 2 Điều 341; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xử phạt bị cáo T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là từ 04 năm đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã trả số tiền 60.000.000 đồng cho chị Á và chị Á không yêu cầu bồi thường về dân sự nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị lưu hồ sơ vụ án: 01 Giấy chứng nhận quyền sử đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số: CG 054821, mang tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Ông: Hoàng Hữu C và bà: Nguyễn Thị L1, đề ngày 22/12/2016 do Nguyễn Thị Á giao nộp và 01 thẻ tiết kiệm có kỳ hạn số thẻ 0892118, số CIF 00162486997 của Ngân hàng V - Chi nhánh Đ - Phòng G1 phát hành cho Nguyễn Ngọc T; số CMND: [...], ngày cấp CMND09/02/20211, nơi cấp: Công an tỉnh B, địa chỉ: thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; ngày phát hành 01/12/2021, ngày đến hạn: 01/12/2024: loại tiền: VND, kỳ hạn: 03 năm do Nguyễn Đình N1 ký.

Các vật chứng còn lại đã xử lý đúng theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Phần tranh luận bị cáo trình bày không có ý kiến gì về mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến trong phần tranh luận. Phần trình bày lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình và hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: thông qua mạng xã hội facbook bị cáo đã liên hện với tài khoản facbook có tên người dùng là “Đọc Bước” bị cáo đã đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 142, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Do cần tiền tiêu xài nên ngày 02 tháng 5 năm 2022, bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đối với thửa 142, tờ bản đồ số 38, tọa lạc tại ấp H, xã S để thế chấp vay số tiền 60.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Ánh . Do chị Á phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị cáo thế chấp vay là giả nên đã trình báo Công an xử lý.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như Bản Kết luận giám định số 2812/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 44/CT – VKS - CM ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo theo các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là một công dân có đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, đã sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và đã đưa ra những thông tin gian dối, không đúng sự thật làm cho người bị hại tin đó là thật, nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý, hành chính của Nhà nước và quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Vì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Chị Á đã nhận lại toàn bộ tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không đặt ra xem xét.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • 01 Giấy chứng nhận quyền sử đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số: CG 054821, mang tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Ông: Hoàng Hữu C và Bà: Nguyễn Thị L1, đề ngày 22/12/2016 do Nguyễn Thị Á giao nộp; 01 thẻ tiết kiệm có kỳ hạn số thẻ 0892118, số CIF 00162486997 của Ngân hàng V - Chi nhánh Đ - Phòng G1 phát hành cho Nguyễn Ngọc T; số CMND: [...], ngày cấp CMND09/02/20211, nơi cấp: Công an tỉnh B, địa chỉ: thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; ngày phát hành 01/12/2021, ngày đến hạn: 01/12/2024: loại tiền: VND, kỳ hạn: 03 năm do Nguyễn Đình N1 ký là vật chứng có trong hồ sơ vụ án nên lưu kèm theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
  • Các vật chứng còn lại đã xử lý đúng theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

[7] Các vấn đề khác:

  • Đối với hành vi sử dụng thẻ tiết kiệm của Ngân hàng V - Chi nhánh Đ - Phòng G1 giả của bị cáo T. Việc bị cáo thuê người khác làm giả thẻ tiết kiệm nêu trên là nhằm mục đích để bố mẹ an tâm và không biết T đã tiêu xài hết số tiền bán đất mà bố mẹ cho, không nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật. Do đó, hành vi trên của bị cáo T không cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
  • Đối với với đối tượng làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thẻ ngân hàng V. Quá trình điều tra, bị cáo khai chỉ liên lạc với người này qua mạng xã hội, không biết là ai, sau khi giao giấy giả cho bị cáo, người này đã xóa hết thông tin liên quan nên không có cơ sở để xử lý là phù hợp.
  • Đối với Nguyễn Thị H: Không có cơ sở xác định Nguyễn Thị H liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Ngọc T nên Cơ quan điều tra không xử lý Nguyễn Thị H là phù hợp.
  • Đối với Nguyễn Thị Á cho vay tiền, có cầm cố tài sản với lãi suất cho vay là 36%/năm vượt quả tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chuyển hồ sơ và tài liệu có liên quan đến hành vi vi phạm của Nguyễn Thị Á đến Ủy ban nhân dân huyện C để xử phạt theo quy định là phù hợp.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên xem xét ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm d khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T: 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T: 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

    Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 11 năm 2023.

  3. Về trách nhiệm dân sự: không giải quyết.
  4. Về vật chứng vụ án: 01 Giấy chứng nhận quyền sử đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số: CG 054821, mang tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Ông: Hoàng Hữu C và bà: Nguyễn Thị L1, đề ngày 22/12/2016 do Nguyễn Thị Á giao nộp; 01 thẻ tiết kiệm có kỳ hạn số thẻ 0892118, số CIF 00162486997 của Ngân hàng V - Chi nhánh Đ - Phòng G1 phát hành cho Nguyễn Ngọc T; số CMND: [...], ngày cấp CMND09/02/20211, nơi cấp: Công an tỉnh B, địa chỉ: thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre; ngày phát hành 01/12/2021, ngày đến hạn: 01/12/2024: loại tiền: VND, kỳ hạn: 03 năm do Nguyễn Đình N1 ký là vật chứng có trong hồ sơ vụ án nên lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

    Các vật chứng còn lại đã xử lý đúng theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • Người tham gia tố tụng;
  • TAND tỉnh Đồng Nai;
  • VKS tỉnh Đồng Nai;
  • STP tỉnh Đồng Nai;
  • Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • VKS huyện Cẩm Mỹ;
  • THA.DS huyện Cẩm Mỹ;
  • THA hình sự;
  • Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Khuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Th phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger