|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/5/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hướng và ông Hoàng Tú Nam.
-Thư ký phiên toà: Ông Lê Đình Tứ, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Đại, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 153/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/12/2023; Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài C, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 04/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Phạm Thị M đều trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hoài C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H vào ngày 17/7/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian rất ngắn, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông C thường xuyên cờ bạc, rượu chè, về nhà say xỉn đánh chửi vợ con. Sau khi đi thi hành án phạt tù, vào ngày 29/9/2023, ông H được ra tù trở về gia đình nhưng vẫn chứng nào tật ấy và hay đe dọa vợ con. Ngày 08/01/2024, ông C tiếp tục bị tạm giam về hành vi cố ý gây thương tích, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện xin ly hôn ông C để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà M khai bà và ông H có 02 con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/01/2015 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 11/5/2017. Bà M có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Anh T1 và giao cháu Nguyễn Bảo T cho ông H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà M khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/4/2024, bị đơn ông Nguyễn Hoài C trình bày: Về quan hệ hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn thì như bà M đã trình bày. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay bà M xin ly hôn thì ông đồng ý thuận tình ly hôn với bà M.
Về con chung: Ông C xác nhận vợ chồng ông có 02 con chung như bà M đã khai. Nếu ly hôn ông đồng ý giao 02 con chung cho bà M tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không cấp dưỡng nuôi con do hiện tại ông đang bị tạm giam.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, ông C không đến Toà án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, ông C vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại Biên bản ghi nhận nguyện vọng ngày 04/5/2024, ngày 14/05/2024, cháu Nguyễn Bảo T và cháu Nguyễn Anh T1 (con gái ông C bà M) đều trình bày: Nếu ba mẹ cháu ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn ông Nguyễn Hoài C, xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/01/2015 và Nguyễn Anh T1, sinh ngày 11/5/2017.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:
-
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
-
Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
-
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị M.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị M được ly hôn ông Nguyễn Hoài C.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/01/2015 và cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 11/5/2017 cho bà Phạm Thị M tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà M không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà M, ông C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Viện kiểm sát không xem xét.
Về án phí: Buộc bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị M khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Hoài C. Ông C có nơi cư trú tại: Tổ dân phố E, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông C đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
Đối với việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa, về việc yêu cầu Tòa án giao con chung là cháu Nguyễn Bảo T và cháu Nguyễn Anh T1 cho bà M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hoài C và bà Phạm Thị M có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã H vào ngày 17/7/2014 (số 48, năm 2014). Như vậy, hôn nhân giữa ông C và bà M là hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị M, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo trình bày của bà M thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do ông C thường xuyên cờ bạc, rượu chè, về nhà đánh chửi vợ con. Trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Ông C bản chất vũ phu, hay dọa giết vợ, không quan tâm đến gia đình là phù hợp với xác nhận của Công an phường T, thị xã H xác nhận “Năm 2019, ông C bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người”. Ngày 29/9/2023, chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Tuy nhiên trong quá trình sinh sống thường xuyên say rượu gây mất trật tự công cộng. Vừa qua có hành vi cố ý gây thương tích, Cơ quan điều tra Công an thị xã H đang thụ lý giải quyết”. Như vậy, có cơ sở xác định lỗi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông C và đời sống chung hiện nay giữa ông C và bà M không tồn tại.
Tại phiên tòa, bà M vẫn cương quyết ly hôn với ông C, phía ông C cũng đã đồng ý ly hôn với bà M đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện sự bỏ mặc, không muốn đoàn tụ. Nhận thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa bà M và ông C không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M, cho bà M được ly hôn với ông C.
[2.3] Về con chung: Bà M và ông C có 02 con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/01/2015 và cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 11/5/2017, hiện đang ở với bà M.
Xét yêu cầu của bà M có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu T và T1 là phù hợp với ý kiến, nguyện vọng của ông C và hai cháu, không làm xáo trộn, thay đổi việc hai cháu hiện nay đang trực tiếp chung sống với bà M. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Bảo T và cháu Nguyễn Anh T1 cho bà M tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Do bà M không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông C chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà M, ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.6] Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thị M đối với ông Nguyễn Hoài C về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Bà Phạm Thị M được ly hôn ông Nguyễn Hoài C.
-
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 27/01/2015 và cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 11/5/2017 cho bà M tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
Ông C chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về tài sản chung và nợ chung: Bà M, ông C không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm gồm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001555 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Bà M đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn
