Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 24-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Chang;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Ông Phạm Văn Trung;

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 tháng 5, ngày 21 tháng 5 và ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh ngày 28/7/1964 tại Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G, đường N, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Vũ Thị T (đã chết); bị cáo có vợ là Đặng Thị Hồng H (đã chết), có 02 người con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Văn C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 07/4/2023 đến ngày 14/12/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà C, đường A, tổ C, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt (vắng mặt ngày tuyên án).
  2. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan Thành Đ:
    • + Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; nơi thường trú: Số nhà C, đường A, tổ C, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương.
    • + Chị Phan Ánh T1, sinh ngày 28/12/2005;
    • + Anh Phan Anh T2, sinh ngày 09/4/2007;
    • + Cháu Phan Anh T3, sinh ngày 11/01/2016;

    Cùng nơi thường trú: Số nhà C, đường A, tổ C, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện theo pháp luật của chị T1, anh T2 và cháu T3 là bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; nơi thường trú: Số nhà C, đường A, tổ C, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt (vắng mặt ngày tuyên án).

  3. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ D, ấp S, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Văng mặt.
  4. Nguyễn Thanh P, sinh ngày 10/01/2000; địa chỉ: Số G, đường N, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
  5. Ông Đỗ Trọng N; sinh năm 1987; địa chỉ: Số B, đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở: Số A, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  6. Ông Lê Minh H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ D, ấp E, Sông T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
  7. Hồ Thị Nhã Đ1, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  8. Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1: Bà Nguyễn Thị Hà Đ2, sinh năm 1985; địa chỉ: Số D, tổ A, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.

  9. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ C, khu phố C, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt ngày 21/5/2024, (vắng mặt ngày tuyên án).
  10. Ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A, đường Â, tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
  11. Ông Nguyễn Minh T7, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 1, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.
  12. Đoàn Thị T8, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ D, khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Mạnh D. Có mặt ngày 16/5/2024.
  2. Nguyễn Minh N1. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị S có mối quan hệ quen biết, không có quan hệ họ hàng. Năm 2020, bị cáo C đã nhiều lần cho bà S vay tiền để đầu tư mua bán bất động sản và đáo hạn ngân hàng. Từ ngày 08/02/2021 đến ngày 21/5/2021, bị cáo C và bà S chốt lại số tiền bị cáo C cho bà S vay, tính lãi suất và bị cáo C thu lợi bất chính được xác định như sau:

Theo “THÔNG BÁO THU TIỀN LÃI” do bị cáo C viết và gửi bà S thể hiện, bị cáo C cho bà S vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) ghi ngày 08/02/2021, suất 5000đ/01 triệu/01 ngày (bị cáo và bà S thỏa thuận tiền lãi không tính các ngày thứ 7, chủ nhật), tiền lãi mỗi tháng bà S phải trả cho bị cáo C là 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), tương đương lãi suất 0,5%/ngày, 11%/tháng, 134,5%/năm, gấp 6,7 lần mức lãi suất cho phép (20%/năm) quy định tại Bộ luật Dân sự.

Theo “THÔNG BÁO THU TIỀN LÃI” do bị cáo C viết và gửi bà S thể hiện, bị cáo C cho bà S vay số tiền 3.850.000.000 đồng (Ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng) ghi ngày 21/5/2021, với lãi suất 4000đ/01 triệu/01 ngày (bị cáo và bà S thỏa thuận tiền lãi không tính các ngày thứ 7, chủ nhật), tiền lãi mỗi tháng bà S phải trả là 338.800.000 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng), tương đương lãi suất 0,4%/ngày, 8,8%/tháng, 107,6%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cho phép (20%/năm) quy định tại Bộ luật Dân sự.

Theo “THÔNG BÁO THU TIỀN LÃI” do bị cáo C viết và gửi bà S thể hiện tính đến ngày 30/9/2021, bị cáo C liệt kê chi tiết số tiền lãi của khoản vay gốc là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và 3.850.000.000 đồng (Ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), số tiền lãi bà S phải trả, số tiền lãi bà S đã trả từ tháng 3 năm 2021, số tiền lãi còn nợ của tháng 3 và 4 cho đến ngày 30/9/2021, chốt lại tổng cộng bà S vay của bị cáo C tiền gốc là 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng), số tiền lãi bà S đã trả cho bị cáo C là 115.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) trả bằng tiền mặt cho bị cáo C, số tiền lãi chưa trả là 2.369.500.000 đồng (Hai tỷ ba trăm sáu mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra, thu thập được các tài liệu chứng cứ chứng minh được bà S trả tiền lãi cho bị cáo C bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản của bị cáo C là 335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng), trả tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản của con gái bị cáo C là bà Nguyễn Thanh P là số tiền 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng).

Đến ngày 12/11/2021, bị cáo C và bà S làm giấy xác nhận nợ với số tiền bà S vay là 7.200.000.000 đồng (Bảy tỷ hai trăm triệu đồng), bà S và chồng bà S là ông Phan Thành Đ có ký xác nhận nợ, trong đó số tiền gốc bà S vay nợ bị cáo C là 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng), số tiền lãi bà S phải trả (tính đến ngày 12/11/2021) là 2.870.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng).

Tại Cáo trạng số 03/CT - VKSPG ngày 15/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xác định: Theo quy định lãi suất tối đa Nhà nước cho phép thì trong 01 ngày bị cáo C được phép nhận số tiền lãi như sau: Đối với khoản vay 3.850.000.000 đồng: 01 ngày bị cáo C được phép nhận số tiền lãi là 3.850.000.000 đồng x (20:365)= 2.109.589,401 đồng. Vậy, tổng số tiền lãi tối đa C được nhận trong 176 ngày (từ ngày 21/5/2021 đến ngày 12/11/2021) là số tiền 2.109.589,401 đồng x 176 ngày = 371.287.734,576 đồng. Đối với khoản vay 500.000.000 đồng: Trong 01 ngày bị cáo C được phép nhận số tiền lãi là: 500.000.000 đồng x (20:365)= 273.972,6027 đồng. Vậy, tổng số tiền lãi tối đa bị cáo C nhận được trong 278 ngày (từ ngày 08/02/2021 đến ngày 12/11/2021) là số tiền: 273.972,6027 đồng x 278 ngày = 76.164.383,56 đồng. Do đó, tổng số tiền hợp pháp của hai khoản vay mà C được nhận là: 371.287.734,576 đồng + 76.164.383,56 đồng = 447.452.117,932 đồng. Số tiền lãi mà bà S phải trả cho bị cáo C là: Đối với khoản vay 3.850.000.000 đồng x 0,4% x 126 ngày (từ ngày 21/5/2021 đến ngày 12/11/2021, trừ thứ bảy, chủ nhật) =1.940.400.000 đồng. Đối với khoản vay 500.000.000 đồng 0,5% x 200 ngày (từ ngày 08/02/2021 đến ngày 12/11/2021, trừ thứ bảy, chủ nhật) = 500.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi bà S phải trả là 1.940.400.000 đồng + 500.000.000 đồng = 2.440.400.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà C hướng tới thu lợi là 2.440.400.000 đồng - 447.452.117,932 đồng = 1.992.947.882,068 đồng và thực tế C đã thu được số tiền lãi từ bà S là 484.000.000 đồng. C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương thu giữ:

  • - Thu giữ của bà S bản chính: 01 Giấy xác nhận nợ đề ngày 12/11/2021 giữa Nguyễn Văn C với bà Nguyễn Thị S; 01 Giấy xác nhận nợ đề ngày 12/11/2021 giữa Nguyễn Minh N1 với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu số tiền 4.350.000.000₫ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu tiền lãi số tiền 2.369.500.000₫ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu tiền lãi số tiền 2.369.500.000₫ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S chốt từ ngày 30/9/2021.
  • - Thu giữ của bị cáo C 01 Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thửa 461, tờ bản đồ 44, địa chỉ thửa đất tại TT P, huyện P, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 500.000.000 đồng) đề ngày 8/2/2021 giữa bà Nguyễn Thị S với Nguyễn Văn C (bản chính); 01 Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thửa 851, tờ bản đồ 8, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương) đề ngày 21/5/2021 giữa bà Nguyễn Thị S với Nguyễn Văn C (bản chính); 01 Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa 851, tờ bản đồ 8, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương) đề ngày 10/10/2020 giữa ông Nguyễn Văn T4 với bà Nguyễn Thị S (bản chính).
  • - Thu giữ của bị cáo C 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510, thửa 851, tờ bản đồ 8, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương được cấp cho ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987.

Tại Cáo trạng số 03/CT - VKSPG ngày 15/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự " theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xem xét nhân thân của bị cáo, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 201, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn C là 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày tù bằng thời gian tạm giam. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp như sau:

  • - Đối với số tiền lãi thu lợi bất chính là 484.000.000 đồng. Đây là tiền bị cáo C thu lợi bất chính từ việc phạm tội, đề nghị bị cáo trả lại cho bà S.
  • - Đối với số tiền lãi tương đương lãi suất 20%/năm mà bị cáo C đã thu của bà S là 36.547.883,932 đồng. Đây là tiền bị cáo C có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có, đề nghị buộc bị cáo nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền thu lợi bất chính mà C hướng tới thu lợi là 1.992.947.882,068 đồng, bị cáo C chưa thu được nên không đề cập xử lý.
  • - Thu giữ của bà S 01 Giấy xác nhận nợ đề ngày 12/11/2021 giữa Nguyễn Văn C với bà Nguyễn Thị S; 01 Giấy xác nhận nợ đề ngày 12/11/2021 giữa Nguyễn Minh N1 với bà Nguyễn Thị S 01 giấy thông báo thu số tiền 4.350.000.000đ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu tiền lãi số tiền 2.369.500.000₫ của C đối với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu tiền lãi số tiền 2.369.500.000₫ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S chốt từ ngày 30/9/2021. Đây là vật chứng của vụ án, đề nghị lưu hồ sơ vụ án.
  • Thu giữ của bị cáo C 01 Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đề ngày 02/08/2021 giữa bà Nguyễn Thị S với Nguyễn Văn C; 01 Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vào ngày 21/5/2021 giữa bà Nguyễn Thị S với Nguyễn Văn C; 01 hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đề ngày 10/10/2020 giữa anh Nguyễn Văn T4 với Nguyễn Thị S. Đây là vật chứng của vụ án, đề nghị lưu hồ sơ vụ án.
  • Thu giữ của bị cáo C 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này ông T4 và bà S có thỏa thuận ông T4 sẽ bán một phần đất trong thửa đất trên cho bà S và bà S đã đưa đủ số tiền 5.000.000.000 đồng cho ông T4, ông T4 giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà S để bà S đi làm thủ tục tách thửa (tách phần đất bà S mua). Sau đó, bà S sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này để đưa cho C nhằm đảm bảo cho khoản tiền 4.350.000.000 đồng mà S đã vay của C trước đó. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 cho bà S.

Tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận và tranh luận: Về tội danh bị cáo không có ý kiến, tiền nộp để tịch thu sung ngân sách nhà nước bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo cho bà S vay tiền tổng số tiền là 4.350.000.000 đồng, đúng như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo cho bà S vay tiền một mình, không hợp tác với ai. Việc ông Lê Hữu P1 đứng tên hợp đồng ủy quyền thửa đất 634, tờ bản đồ 44 của ông Nguyễn Văn T5 để đảm bảo khoản vay là vì tại thời điểm đó căn cước công dân của bị cáo hết hạn nhờ ông P1 đứng tên hộ, bà S nói chỉ nhờ đứng tên 10 ngày thôi lấy lại sổ về cho ông T5 nên bị cáo đồng ý. Ký hợp đồng ủy quyền xong ông P1 cầm hợp đồng ủy quyền, bản chính sổ đỏ, bị cáo không biết việc ông P1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 634, tờ bản đồ 44 cho ai, bị cáo cũng không được lợi gì từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 634, tờ bản đồ 44. Bị cáo không biết giữa ông H2 và bà S có giao dịch gì với nhau, ông H2 làm trong ngân hàng, ông H2 giới thiệu bị cáo mua bán đất từ đó bị cáo mới biết bà S. Từ đó các bên giao dịch đất đai, vay mượn mới dẫn tới sự việc hôm nay. Bị cáo không hùn hạp gì với ông H2 cho vay tiền, tiền cho bà S vay là của bị cáo cho vay. Bị cáo cho vay 4.350.000.000 đồng cho vay giấy tay, thông qua các hình thức mua bán đất đai, sau này không trả được bà S nói với bị cáo tổng tiền ra để bà S phụ đóng tiền lãi ngân hàng nên bị cáo mới viết ra giấy thông báo thu tiền lãi. Đối với thông báo thu tiền lãi của số tiền gốc 1.400.000.000đ, viết cho ông T5 là nằm trong số tiền 3.850.000.000 đồng mà bị cáo cho bà S vay, bị cáo không có chứng cứ chứng minh, vì tài sản thế chấp tên ông T5 nên viết tên ông T5 thu lãi, ông T5 không vay tiền gì của bị cáo cả. Hợp đồng ủy quyền thửa đất của ông T5 ủy quyền cho ông P1 để làm tin số tiền vay 3.850.000.000 đồng, sau đó ông P1 bán thửa đất ông T5 thì bị cáo không biết. Thời điểm này bà S đưa cuốn sổ đỏ tên Nguyễn Văn T4 cho bị cáo giữ làm tin nên bị cáo chỉ giữ sổ đỏ của ông T4 và hợp đồng đặt cọc được ký giữa ông T4 và bà S. Số tiền 1.400.000.000 đồng mà bị cáo viết thông báo thu tiền lãi gửi ông T5 là do bà S đảo qua đảo lại, bà S thu hồi lại tài sản của ông T5, đưa sổ đất của T4 cho bị cáo giữ, bà S cầm tài sản ông T5 sau 20 ngày bà S gọi ông P1, bà S đưa sổ ông T4 cho bị cáo giữ làm tin cũng nói chỉ 20 ngày, bị cáo không cầm cái gì của ông T5, không đưa tiền vay cho ông T5 mà tiền đã đưa bà S. Ông Lê Hữu P1 chuyển nhượng đất của ông T5 bị cáo không biết.

Tại phiên tòa, bà S trình bày và tranh luận: Bà S yêu cầu xem xét hủy hợp đồng ủy quyền ngày 10/6/2021 giữa ông T5 với ông P1 đối với quyền sử dụng đất thửa 634, tờ bản đồ 44, địa chỉ đất tại thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương để trả lại đất cho em trai bà là ông Nguyễn Văn T5 vì bà chỉ mượn sổ của ông T5 để đảm bảo khoản vay cho ông C trong 10 ngày nhưng bà không có khả năng chi trả để lấy lại sổ đất cho ông T5. Việc ông P1 đứng tên trên hợp đồng ủy quyền với ông T5 là do ông C chỉ đạo, chỉ sau 18 ngày thì ông P1 đã ủy quyền thửa đất của ông T5 cho ông Lê Minh H1 và sau đó chỉ khoảng 7 ngày ký chuyển nhượng thửa đất cho bà Hồ Thị N2 Đan là vợ của ông H1. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T4 bà đã mua và trả đủ số tiền 5.000.000.000 đồng, ông T4 có viết xác nhận bà yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông Nguyễn Văn T4 cho bà hoặc bà yêu cầu ông T4 trả lại tiền cho bà. Bà yêu cầu xem xét lại cho bà số tiền mà tòa án buộc bà phải trả cho bà Nguyễn Minh N1 số tiền là 7.000.000.000 đồng vì bà không vay tiền của bà N1. Năm 2019, bà mượn tiền ông H2, đóng tiền lãi cho ông H2, tiền lãi là 4000đ/ngày hoặc 5000đ/ngày, bà có nhờ bà T8 chuyển khoản cho ông H2, ông H2 dẫn ông C lên nhà bà, do ông H2 có nợ ông C nên chuyển giao số tiền mà bà nợ ông H2 qua cho ông C. Ông C có dẫn ông H1, ông N1 lên nhà bà để cho bà vay tiền nhưng bắt bà phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà S sợ mất đất nên không vay. Bà S trả tiền lãi cho ông C qua ông P1 là 170.000.000 đồng tiền mặt, chuyển khoản 30.000.000 đồng cho ông P1, không có chứng cứ, nhưng nay bà S chỉ đề nghị xem xét lại hợp đồng ủy quyền của ông T5 cho ông P1 là 10 năm, không phải là hợp đồng chuyển nhượng nên bà S đề nghị hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông T5 và ông P1 trong vụ án hình sự. Bà S không nhờ ông Nguyễn Trung T6 giới thiệu để mua đất ở T, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký với ông T6 nhưng bà S không lấy tiền từ ông T6, bà S cũng đã nộp đơn tố giác ông T6 và cũng đang khởi kiện tại Tòa án.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T5 trình bày và tranh luận: Bà S là chị ruột của ông T5, bà S có nói với ông T5 là bà S vay tiền bên ngoài, giang hồ gây sức ép nên bà có hỏi mượn ông T5 quyền sử dụng đất thửa 634, tờ bản đồ 44, để làm tin cho khoản vay của bà sương 10 ngày. Ông T5 đồng ý nên có đến văn phòng công chứng ký ủy quyền thửa đất 634, tờ bản đồ 4 cho ông Lê Hữu P1, khi đó có ông C, ông P1, ông T5 đồng ý cho bà S mượn quyền sử dụng đất để làm tin và bà S nói trong 10 ngày lấy sổ đất về cho ông. Sau này ông mới biết là thửa đất 634, tờ bản đồ 44 của ông đã bị ông Lê Hữu P1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Hồ Thị Nhã Đ1, ông đã khởi kiện ra Tòa án Phú Giáo để yêu cầu tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông với ông P1. Ông đề nghị giải quyết hủy hợp đồng ủy quyền trong vụ án hình sự này để trả lại đất cho ông, chỉ mong tòa xem xét giải quyết bảo vệ quyền lợi cho ông, ông chỉ cho bà S mượn sổ, ông đề nghị xem xét hợp hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông với ông P1 để bảo vệ quyền lợi cho ông.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P trình bày và tranh luận: Tôi không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai phạm, bị cáo không nghĩ là vụ việc phức tạp vậy, bị cáo vi phạm lần đầu, xin quý tòa xét xử theo đề nghị đại diện VKS, bị cáo thay đổi con người để cuộc sống tốt hơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ, người làm chứng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Nguyễn Văn C trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Bị cáo Nguyễn Văn C nhiều lần cho bà Nguyễn Thị S vay tiền, tổng cộng 02 khoản vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và 3.850.000.000 đồng (Ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), tổng số tiền cho vay là 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất: Khoản vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), lãi 5.000đ/ngày/1.000.000đ, tiền lãi 1 tháng tính 22 ngày là 55.000.000đ/tháng, tương đương lãi suất 0,5%/ngày, 11%/tháng, 134,5%/năm, gấp 6,7 lần mức lãi suất cho phép (20%/năm) quy định tại Bộ luật Dân sự. Khoản vay 3.850.000.000 đồng (Ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), với lãi suất 4000đ/ngày/1.000.000đ (bị cáo và bà S thỏa thuận tiền lãi không tính các ngày thứ 7, chủ nhật), tiền lãi 1 tháng tính 22 là 338.800.000 đồng (Ba trăm ba mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng), tương đương lãi suất 0,4%/ngày, 8,8%/tháng, 107,6%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cho phép (20%/năm) quy định tại Bộ luật Dân sự. Căn cứ “THÔNG BÁO THU TIỀN LÃI” (bút lục 91, 92), bị cáo C gửi cho bà S xác định được số tiền lãi mà bà S phải trả cho bị cáo C từ tháng 3 năm 2021 đến ngày 30/9/2021 là 2.369.500.000 đồng (Hai tỷ ba trăm sáu mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 12/11/2021, bị cáo làm xác nhận nợ với bà S số tiền nợ là 7.200.000.000 đồng (Bảy tỷ hai trăm triệu đồng), trong đó gốc là 4.350.000.000đ (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng), số tiền lãi phải trả là 2.870.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng). Bị cáo C đã khởi kiện bà S, ông Đ tại Tòa án để yêu cầu trả số tiền là 7.200.000.000 đồng (Bảy tỷ hai trăm triệu đồng). Như vậy, có căn cứ xác định số tiền lãi mà người vay (bà S, ông Đ) phải trả cho bị cáo C tính đến ngày 12/11/2021 là 2.870.000.000 đồng (Hai tỷ tám trăm bảy mươi triệu đồng). Bà S trả được tiền lãi cho bị cáo C như sau: Số tiền mặt là 115.000.000 đồng (Một trăm mười lăm triệu đồng), chuyển khoản 335.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng) từ tài khoản của bà S qua tài khoản của bị cáo C vào các ngày 12/7/2021, 16/7/2021, 21/7/2021, 28/7/2021, 25/10/2021, 28/10/2021, 01/11/2021; số tiền 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng) bà S chuyển khoản cho con gái bị cáo CNguyễn Thanh P các ngày 04/6/2021 và ngày 16/7/2021, tổng tiền lãi bà S đã trả là 484.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi bốn triệu đồng).

Theo quy định Điều 468 Bộ luật Dân sự, lãi suất tối đa các bên được thỏa thuận là 20%/năm: Như vậy, căn cứ “THÔNG BÁO THU TIÊN LÃI” do bị cáo xác định tiền lãi của 02 khoản vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và 3.850.000.000 đồng (Ba tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng), bị cáo C tính lãi của tổng khoản vay 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng), bị cáo xác định khoản nợ lãi tháng 3 và tháng 4 cho đến 30/9/2021, sau đó đến ngày 12/11/2021 bị cáo làm giấy xác nhận nợ tiền gốc, lãi là 7.200.000.000 đồng (Bảy tỷ hai trăm triệu đồng). Do đó, tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay từ tháng 3/2021 (01/3/2021) đến ngày 12/11/2021 là: 4.350.000.000 đồng x 20% : 365 ngày x 256 ngày = 610.191.780 đồng (Sáu trăm mười triệu một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi đồng).

Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà người vay (bà sương, ông Đ) phải trả cho người cho vay (bị cáo C) sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay là 2.259.808.220 đồng (Hai tỷ hai trăm năm mươi chín triệu tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm hai mươi hai đồng).

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Bị cáo nhằm mục đích thu lợi bất chính từ giao dịch dân sự với lãi suất cao hơn 5 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định và số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo hướng tới buộc người vay phải trả cho bị cáo là 2.259.808.220 đồng (Hai tỷ hai trăm năm mươi chín triệu tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm hai mươi hai đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

[5] Do đó, Cáo trạng số 03/CT-VKSPG ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, cáo trạng cũng như phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát xác định số tiền thu lợi bất chính là tiền lãi mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay chưa chínhh xác, HĐXX sẽ xác định lại trong mục xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp.

[6] Tội phạm do bị cáo thực hiện xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân, làm ảnh hưởng tới an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo, nêu gương và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo như sau:

[6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Bà S trình bày số tiền gốc 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) của bị cáo C là sự chuyển giao số tiền mà bà vay của ông Lê Văn H3 qua bị cáo và bà đã trả tiền lãi rất nhiều. Qua điều tra, không có chứng cứ chứng minh khoản vay mà bà S vay của ông Lê Văn H3 chuyển giao cho bị cáo C. Giao dịch dân sự giữa ông H3 cho bà S về việc vay tiền lãi suất cao là khoản vay khác giữa ông H3 và bà S, không liên quan đến khoản tiền bị cáo C cho bà S vay. Cơ quan điều tra Công an huyện P và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tách thành vụ, việc riêng và giải quyết theo quy định pháp luật, không đề cập nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Bà S trình bày khoản vay 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) đã xác nhận nợ với bị cáo C thành 7.200.000.000₫ (Bảy tỷ hai trăm triệu đồng) ngày 12/11/2021 là trùng với số tiền bà xác nhận nợ 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng) với bà Nguyễn Minh N1 cùng ngày 12/11/2021. Quá trình điều tra không có chứng cứ chứng minh số tiền 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) mà bị cáo C cho bà S vay là số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng) xác nhận nợ theo giấy nhận nợ ngày 12/11/2021 với bà Nguyễn Minh N1. Đồng thời, quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng) giữa bà S và bà N1 đã được giải quyết bằng bản án dân sự có hiệu lực pháp luật nên HĐXX không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[9] Bà S trình bày để đảm bảo khoản vay 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) với bị cáo C, bà S đã nhờ em trai của bà là ông Nguyễn Văn T5 dùng tài sản là quyền sử dụng đất thửa 634, tờ bản đồ 44 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 415525 đảm bảo khoản vay bằng hình thức ký hợp đồng ủy quyền trong thời hạn 10 ngày, ông T5 đồng ý cho bà S mượn quyền sử dụng đất để đảm bảo khoản vay. Bị cáo C thừa nhận do bị cáo C không có giấy tờ hợp lệ (chứng minh nhân dân hết hạn như bị cáo trình bày), bị cáo C và bà S thống nhất để ông Lê Hữu P1 là người đứng tên nhận ủy quyền đối với tài sản là quyền sử dụng đất thửa 634, tờ bản đồ 44, ký hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C1 ngày 10/6/2021, số công chứng 03863, quyển số 06/2021 TP/CC-SCC/HĐGD. Sau khi ký hợp đồng ủy quyền xong, bị cáo C không cầm giữ hợp đồng ủy quyền và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà do ông Lê Hữu P1 cầm giữ. Bị cáo C không biết việc ông Lê Hữu P1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Hồ Thị Nhã Đ1, không thu lợi từ việc ông P1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cơ quan điều tra đã xác minh nơi cư trú của ông Lê Hữu P1 nhưng hiện nay ông P1 không có mặt ở địa phương. Đồng thời, ông Nguyễn Văn T5 đã có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đối với ông Lê Hữu P1 để yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng ủy quyền giữa ông T5 và ông P1 theo Thông báo thụ lý vụ án số 319/TB-TLVA ngày 06/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phú GIóa, tỉnh Bình Dương. Do đó, đối với hành vi của ông Lê Hữu P1 cơ quan điều tra công an huyện P và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau. Vụ án tranh chấp dân sự giữa ông T5 và ông P1, ông Lê Minh H1, bà Hồ Thị Nhã Đ1 có liên quan đến quyền sử dụng đất thửa 634, tờ bản đồ 44, HĐXX không đặt ra xem xét trong vụ án này và không có căn cứ nhập vụ án dân sự ông T5 khởi kiện vào vụ án hình sự như đề nghị của bà S nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[10] Đối với bà Nguyễn Thanh P là con gái của bị cáo C có nhận số tiền 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng) do bà S chuyển khoản. Việc bà P nhận số tiền 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng) do bị cáo C nhờ, bà P không được lợi gì. Bà P viết “THÔNG BÁO THU TIÊN LÃI” là do bị cáo C nhờ viết, nội dung do bị cáo C đọc, bà P không biết và không tham gia cùng bị cáo C cho bà S vay tiền. Viện kiểm sát không xem xét xử lý nên HĐXX không xem xét xử lý.

[11] Đối với ông Nguyễn Mạnh D là con trai của bị cáo có đứng tên trên các hợp đồng ủy quyền để đảm bảo khoản vay của bị cáo C cho bà S vay nhưng ông D không biết vì do bị cáo C nhờ đứng tên, ông D không được lợi gì và các hợp đồng ủy quyền này các bên đã ký thỏa thuận hủy hợp đồng ủy quyền, không ai tranh chấp liên quan đến các hợp đồng ủy quyền này, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét xử lý đối với ông Nguyễn Mạnh D nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[12] Đối với ông Nguyễn Minh T7 chỉ làm dịch vụ đổi tiền bằng hình thức nhận tiền chuyển khoản và thanh toán tiền mặt lại cho khách hàng. Ông T7 có nhận chuyển khoản từ bà S và giao tiền mặt theo thỏa thuận với một người đàn ông, không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[12] Về biện pháp tư pháp:

Số tiền nợ gốc là 4.350.000.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) bị cáo C cho bà S vay là khoản tiền bị cáo dùng để cho vay, liên quan trực tiếp đến tội phạm nên tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định. Số tiền 4.350.000.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) bà S chưa trả cho bị cáo. Số tiền 4.350.000.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) bà S vay trong thời kỳ hôn nhân với ông Phan Thành Đ, nên xác định khoản vay này là nợ chung của vợ chồng bà S, ông Đ. Do ông Đ chết nên HĐXX buộc những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Đ cùng với bà S phải liên đới nộp số tiền 4.350.000.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) để tịch thu sung quỹ nhà nước. Đại diện Viện kiểm sát chỉ buộc bà S nộp số tiền 4.350.000.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) để tịch sung quỹ nhà nước là chưa đầy đủ.

Đối với tiền lãi thu lợi bất chính mà đại diện Viện kiểm sát xác định là 484.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi bốn triệu đồng) là số tiền lãi bà S đã trả cho bị cáo C, là tiền bị cáo C thu lợi bất chính từ việc phạm tội, đề nghị bị cáo trả lại cho bà S và xác định số tiền lãi tương đương lãi suất 20%/năm mà bị cáo C đã thu của bà S là 36.547.883,932 đồng là số tiền bị cáo có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có, đề nghị buộc bị cáo nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước. HĐXX nhận định, khoản tiền vay 4.350.000.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) bị cáo C cho bà S vay không nhớ rõ thời gian chính xác. Căn cứ Thông báo thu tiền lãi, bị cáo C xác định số tiền lãi bà S phải trả kể từ tháng 3 năm 2021, cho đến ngày xác nhận nợ ngày 12/11/2021. Như vậy, có căn cứ khoản tiền lãi được tính chung cho tổng số tiền vay 4.350.000.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) từ tháng 3 năm 2021 đến ngày 12/11/2021. Do đó, tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay từ tháng 3/2021 (ngày 01/3/2021) đến ngày 12/11/2021 là: 4.350.000.000₫ x 20% : 365 ngày x 256 ngày = 610.191.780 đồng (Sáu trăm mười triệu một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi đồng). Như vậy, số tiền thu lợi bất chính mà người vay (bà sương, ông Đ) phải trả cho người cho vay (bị cáo C) sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay là 2.259.808.220đ đồng (Hai tỷ hai trăm năm mươi chín triệu tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm hai mươi hai đồng). Số tiền lãi bà S thực tế đã trả cho bị cáo C là 484.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi bốn triệu đồng) trong cả kỳ hạn vay, là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay nên buộc bị cáo C nộp để tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với “Thu lợi bất chính” là số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người vay (bà S) phải trả cho người cho vay (bị cáo C) là 2.259.808.220 đồng (Hai tỷ hai trăm năm mươi chín triệu tám trăm lẻ tám nghìn hai trăm hai mươi hai đồng) nhưng bà S chưa trả nên không đề cập đến.

[12] Về xử lý vật chứng:

  • - Bản chính: 01 Giấy xác nhận nợ đề ngày 12/11/2021 giữa Nguyễn Văn C với bà Nguyễn Thị S; 01 Giấy xác nhận nợ đề ngày 12/11/2021 giữa Nguyễn Minh N1 với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu số tiền 4.350.000.000₫ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu tiền lãi số tiền 2.369.500.000₫ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S; 01 giấy thông báo thu tiền lãi số tiền 2.369.500.000₫ của Nguyễn Văn C đối với bà Nguyễn Thị S chốt từ ngày 30/9/2021; 01 giấy cho mượn tiền đề ngày 26/11/2021 giữa ông Lê Minh H1 và bà Nguyễn Thị S thu giữ của bà S; 01 Thông báo thu tiền lãi về việc yêu cầu thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết ngày 30/9/2021 do bà S nộp tại phiên tòa là các vật chứng của vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • - Thu giữ của bị cáo C 01 Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thửa 461, tờ bản đồ 44, địa chỉ thửa đất tại TT P, huyện P, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 500.000.000 đồng) đề ngày 8/2/2021 giữa bà Nguyễn Thị S với Nguyễn Văn C (bản chính); 01 Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản găn liền với đất (thửa 851, tờ bản đồ 8, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương) đề ngày 21/5/2021 giữa bà Nguyễn Thị S với Nguyễn Văn C (bản chính); 01 Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa 851, tờ bản đồ 8, địa chỉ thửa đất tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương) đề ngày 10/10/2020 giữa ông Nguyễn Văn T4 với bà Nguyễn Thị S (bản chính) là các vật chứng của vụ án được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • - Thu giữ tại nhà bị cáo C 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987. Ông T4 trình bày chỉ chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa 851, tờ bản đồ 8, đất tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương cho bà S và giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987 cho bà S đi làm thủ tục chuyển nhượng. Bà S trình bày nhận chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất thửa 851, tờ bản đồ 8, đất tại xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương của ông T4 giá 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), bà đã thanh toán hết số tiền chuyển nhượng cho ông T4. Xét thấy, thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà S và ông T4 là giao dịch dân sự, bà S đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987 để cho bị cáo C cầm giữ để đảm bảo khoản vay là không đúng thỏa thuận với ông T4. Theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.” Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987 chưa được cập nhật biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà S nên theo quy định của Luật Đất đai thì ông T4 là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất 851, tờ bản đồ 8. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987 cho bà S là không có căn cứ. HĐXX căn cứ theo quy định của Luật Đất đai, trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987 cho ông Nguyễn Văn T4. Giao dịch dân sự liên quan đến thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 851, tờ bản đồ 8 giữa bà S và ông T4 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo C, bà S, ông T4 được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Đối với giấy cho mượn tiền đề ngày 26/11/2021 giữa ông Lê Minh H1 và bà Nguyễn Thị S, người làm chứng Lê Hữu P1 (bút lục 683) thu giữ của bà S, không có chứng cứ chứng minh có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo C, nên HĐXX không đặt ra xem xét, chứng cứ được lưu giữ trong hồ sơ, nếu các bên có tranh chấp thì giải quyết theo quy định của pháp luật.

[13] Tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX xem xét chấp nhận.

[14] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 46, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 105, Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày tù, thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam kể từ ngày 07/4/2023 đến ngày 14/12/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
    • - Trả lại cho ông Nguyễn Văn T4 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CQ 458510 mang tên Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987; CMND số [...], địa chỉ thường trú; Ấp S, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo.

  4. Về biện pháp tư pháp:
    • Buộc bị cáo Nguyễn Văn C nộp số tiền 484.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi bốn nghìn đồng) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    • Buộc bà Nguyễn Thị S và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan Thành Đ gồm: Bà Nguyễn Thị S, chị Phan Ánh T1, anh Phan Anh T2, cháu Phan Anh T3; người đại diện theo pháp luật của chị T1, anh T2 và cháu T3 là bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1979; nơi thường trú: Số nhà C, đường A, tổ C, khu phố I, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương có trách nhiệm liên đới nộp lại số tiền 4.350.000.000 đồng (Bốn tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

  5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Phú Giáo;
  • - Công an huyện Phú Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Tân Thạnh Tây, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh (thay Thông báo);
  • - Lưu: hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Chang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger