|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 43/2024/DS-ST
Ngày: 24-4-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Hải
- Bà Trịnh Thị Lệ Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ
Địa chỉ trụ sở: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Lưu Trần Hồng P; Chức vụ: Phó trưởng phòng KHCN – Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh L; Địa chỉ: Số A H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An. (Theo văn bản ủy quyền số 826/UQ.BIDV.LA-QLRR ngày 14/9/2023). (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Bà Lin Thị Như Y, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số H (Số cũ: B6) KDC N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 6 năm 2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ do bà Lưu Trần Hồng P đại diện trình bày:
Vào ngày 05/01/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và bà Lin Thị Như Y đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 01/2022/9495902/HĐTD, cụ thể nội dung như sau: số tiền vay: 1.200.000.000 đồng; Mục đích vay: hoàn vốn mua đất ở; Lãi suất cho vay: 9.5%/năm, cố định trong vòng 12 tháng đầu tiên kể từ thời điểm giải ngân lần đầu (đến hết ngày 04/01/2023), sau thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi trên, sẽ áp dụng lãi suất thả nổi và được điều chỉnh 06 tháng 01 lần vào ngày 01/01 và 01/7 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn; Thời hạn vay: 180 tháng; Phương thức trả nợ: nợ gốc trả trong 180 kỳ (mỗi kỳ 01 tháng) vào ngày 05 tây hàng tháng, ngày trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 05/02/2022, lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 05 tây, bắt đầu thu lãi vào ngày 05/02/2022.
Cùng ngày 05/01/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ và bà Lin Thị Như Y đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/9495902/HĐTD, cụ thể nội dung như sau: số tiền vay: 900.000.000 đồng; Mục đích vay: phục vụ nhu cầu đời sống của cá nhân bên vay và gia đình; Lãi suất cho vay: 11%/năm và được điều chỉnh 06 tháng 01 lần vào ngày 01/01 và 01/7 hàng năm theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn; Thời hạn vay: 60 tháng; Phương thức trả nợ: nợ gốc trả trong 60 kỳ (mỗi kỳ 01 tháng) vào ngày 05 tây hàng tháng, ngày trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 05/02/2022, lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 05 tây, bắt đầu thu lãi vào ngày 05/02/2022.
Để bảo đảm cho số nợ trên thì bà Lin Thị Như Y có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/9495902/HĐBĐ ngày 29/12/2021 để thế chấp các tài sản như sau:
- - Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 646, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An; Diện tích thế chấp: 201.9 m²; Hình thức sử dụng: sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; Thời hạn sử dụng đất: Lâu dài; Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất. Chủ sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên là bà Lin Thị Như Y theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 599746, số vào sổ cấp GCN: CS 03905 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 06/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021. Cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác bao gồm: các tài sản đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các công trình, máy móc, trang thiết bị, hoa màu, cây lâu năm và vật kiến trúc trên đất do bên thế chấp cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, đều thuộc tài sản bảo đảm. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
- - Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An; Diện tích thế chấp: 2659 m²; Hình thức sử dụng: sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác; Thời hạn sử dụng đất: 10/2063; Nguồn gốc sử dụng: Nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất. Chủ sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên là bà Lin Thị Như Y theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 341536, số vào sổ cấp GCN: CS 03973 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 26/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021. Cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác bao gồm: các tài sản đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các công trình, máy móc, trang thiết bị, hoa màu, cây lâu năm và vật kiến trúc trên đất do bên thế chấp cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, đều thuộc tài sản bảo đảm. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 05/01/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho bà Lin Thị Như Y theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/9495902/HĐTD và Hợp đồng tín dụng số 02/2022/9495902/HĐTD với tổng số tiền là: 2.100.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lin Thị Như Y đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 05/4/2023.
Cho đến nay bà Lin Thị Như Y còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc và lãi là 2.246.560.684₫ (Hai tỷ hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 1.987.505.290đ (Một tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn hai trăm chín mươi đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/4/2024 là 259.055.394₫ (Hai trăm năm mươi chín triệu không trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi bốn đồng).
Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Lin Thị Như Y có nghĩa vụ trả số tiền gốc và lãi là 2.246.560.684₫ (Hai tỷ hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 1.987.505.290đ (Một tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn hai trăm chín mươi đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/4/2024 là 259.055.394₫ (Hai trăm năm mươi chín triệu không trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi bốn đồng). Yêu cầu bà Lin Thị Như Y tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất ghi trong Hợp đồng tín dụng trên số tiền thực nợ kể từ ngày 25/4/2024 cho đến khi thánh toán xong khoản nợ. Đồng thời yêu cầu bà Lin Thị Như Y tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/9495902/HĐBĐ ngày 29/12/2021 để đảm bảo thi hành án.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Ngày 23/3/2024, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với bà Lin Thị Như Y có chữ ký bà Y và bảng tóm tắt sao kê dư nợ, xác định bà Y có vay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tổng số tiền là 2.100.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 646, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 599746, số vào sổ cấp GCN: CS 03905 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 06/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021 và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 341536, số vào sổ cấp GCN: CS 03973 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 26/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021, cùng toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất.
Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà Y đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà Y trả nợ, nhưng bà Y vẫn không thực hiện.
Dư nợ của bà Y theo Hợp đồng tín dụng số: 01/2022/9495902/HĐTD và Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/9495902/HĐTD tạm tính đến ngày 24/4/2024 như sau: nợ vay gốc là 1.987.505.290 đồng, tiền lãi tính đến ngày 24/4/2024 là 259.055.394 đồng, tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 2.246.560.684 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Y không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có lời khai thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì bà Y có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số H (Số cũ: B6) KDC N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Y nhưng bà Y vẫn cố tình trốn tránh. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu buộc bà Y phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày đến ngày 23/4/2024 là 2.246.560.684 đồng, yêu cầu bà Y tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 24/4/2024 và tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/9495902/HĐBĐ ngày 29/12/2021. Vì vậy, căn cứ vào Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Bà Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và toàn bộ chi phí tố tụng khác theo quy định, hoàn tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn khởi kiện tranh chấp đối với bà Lin Thị Như Y về yêu cầu trả số nợ vay trong hợp đồng vay tài sản. Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, bà Lin Thị Như Y đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vắng mặt. Trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ vay: Theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/9495902/HĐTD ngày 05/01/2022, Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/9495902/HĐTD ngày 05/01/2022 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: vào ngày 05 tháng 01 năm 2022, bà Lin Thị Như Y có vay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh L tổng số tiền 2.100.000.000 đồng. Hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi, thời hạn vay lần lượt theo từng hợp đồng là 180 tháng và 60 tháng; Phương thức trả nợ: nợ gốc và nợ lãi trả định kỳ hàng tháng vào ngày 05 tây. Ngày 05/01/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã giải ngân đầy đủ số tiền vay cho bà Lin Thị Như Y theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/9495902/HĐTD ngày 05/01/2022 và Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/9495902/HĐTD ngày 05/01/2022 với tổng số tiền là: 2.100.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lin Thị Như Y đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên các khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 05/4/2023. Đến nay bà Y còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 2.246.560.684₫ (Hai tỷ hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 1.987.505.290đ (Một tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn hai trăm chín mươi đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/4/2024 là 259.055.394₫ (Hai trăm năm mươi chín triệu không trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi bốn đồng).
Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định cho bà Y thể hiện việc Ngân hàng thương mại cổ phần Đ khởi kiện nhưng bà Y vắng mặt và không có ý kiến, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Do bà Y vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ là có căn cứ, buộc bà Y có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ nợ gốc là 1.987.505.290₫ (Một tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn hai trăm chín mươi đồng) và nợ lãi tính đến ngày 24/4/2024 là 259.055.394₫ (Hai trăm năm mươi chín triệu không trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi bốn đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 2.246.560.684₫ (Hai tỷ hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng) theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/9495902/HĐTD ngày 05/01/2022 và Hợp đồng tín dụng số: 02/2022/9495902/HĐTD ngày 05/01/2022, bà Lin Thị Như Y đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/9495902/HĐBĐ ngày 29/12/2021 với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh L, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 646, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 599746, số vào sổ cấp GCN: CS 03905 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 06/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021 và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 341536, số vào sổ cấp GCN: CS 03973 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 26/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021. Cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác bao gồm: các tài sản đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và các công trình, máy móc, trang thiết bị, hoa màu, cây lâu năm và vật kiến trúc trên đất do bên thế chấp cải tạo, xây dựng thêm gắn liền với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, đều thuộc tài sản bảo đảm.
Hợp đồng thế chấp bất động sản được Văn phòng C vào ngày 29/12/2021 và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T, tỉnh Long An vào ngày 29/12/2021, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật nên hợp pháp.
Do đó, yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho Ngân hàng thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
[3] Phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp tài sản là có căn cứ.
[4] Về chi phí tố tụng: bà Lin Thị Như Y có nghĩa vụ chịu 6.000.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã nộp tạm ứng số tiền trên. Do đó, bà Y có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 6.000.000 đồng.
[5] Về án phí: bà Y có nghĩa vụ chịu 76.931.213đ (Bảy mươi sáu triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 470 và Điều 299, Điều 317, Điều 318 và Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đối với bà Lin Thị Như Y.
1.1. Về số nợ vay: Buộc bà Lin Thị Như Y có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số nợ vay gốc là 1.987.505.290đ (Một tỷ chín trăm tám mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn hai trăm chín mươi đồng) và tiền lãi tính đến ngày 24/4/2024 là 259.055.394₫ (Hai trăm năm mươi chín triệu không trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi bốn đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 2.246.560.684đ (Hai tỷ hai trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/4/2024 bà Lin Thị Như Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
1.2. Về xử lý tài sản thế chấp: Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà bà Lin Thị Như Y không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi, thì Q sử dụng đất tại thửa đất số 646, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 599746, số vào sổ cấp GCN: CS 03905 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 06/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021 và Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 341536, số vào sổ cấp GCN: CS 03973 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 26/6/2018, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho bà Lin Thị Như Y ngày 28/12/2021, cùng toàn bộ tài sản gắn liền khác gắn liền với đất đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2021/9495902/HĐBĐ ngày 29/12/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với bà Lin Thị Như Y được phát mãi để đảm bảo thi hành án đối với số nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
2. Về chi phí tố tụng: bà Lin Thị Như Y phải chịu 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã nộp tạm ứng số tiền trên nên bà Lin Thị Như Y có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).
3. Về án phí: bà Lin Thị Như Y có nghĩa vụ chịu 76.931.213đ (Bảy mươi sáu triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn hai trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 36.281.750₫ (Ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002823 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 43/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng BIDV "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Lin Thị Như Yến
