|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HSPT Ngày 23 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Đinh Thị Như Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Võ Chí C và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ, Lê Thành L1, Trần Đình Đ1; các bị hại Nguyễn Thanh H, Nguyễn Huỳnh Thanh H1 và người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh H: chị Đặng Thị Thanh T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
* Các bị cáo có kháng cáo:
-
Võ Chí C (tên gọi khác: Q), sinh ngày 18 tháng 3 năm 1994 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ C, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đình Q1, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị M, sinh năm 1972; có vợ là Nguyễn Thị Minh T1 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 23/7/2011 có hành vi đánh nhau bị Công an phường A, thị xã A xử phạt 375.000 đồng (đã chấp hành xong).
- Ngày 21/5/2012 có hành vi đánh nhau bị UBND phường phường A, thị xã A áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã phường thời gian 06 tháng (đã chấp hành xong).
Bị bắt tạm giam ngày 28/4/2020 đến ngày 23/11/2020 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
-
Lê Thanh L, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1996 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ D, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 20/01/2012 có hành vi đánh nhau bị Công an phường N, thị xã A xử phạt hành chính Cảnh cáo (đã chấp hành xong).
- Ngày 01/9/2012 có hành vi trực tiếp xâm hại sức khỏe người khác bị UBND phường N, thị xã A áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường 06 tháng (đã chấp hành xong).
- Ngày 08/8/2013 bị UBND thị xã A xử phạt hành chính đưa vào Trường G thời gian 18 tháng (đã chấp hành xong). Ngày 08/02/2018 có hành vi đánh bạc bị Công an thị xã A xử phạt hành chính 1.500.000 đồng (đã chấp hành xong).
Bị bắt tạm giam từ ngày 10/6/2020 đến ngày 07/11/2020 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
-
Đoàn Trường Đ, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1993 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ C, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông. trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Đức H2, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/5/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã An Khê xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị bắt tạm giam ngày 03/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
-
Lê Thành L1 (tên gọi khác: C1), sinh ngày 16 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Làng Quel, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1970; có vợ là Đoàn Thị L4, sinh năm 1990 và 02 người con, sinh năm 2016 và 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
-
Trần Đình Đ1 (tên gọi khác: Cọ E), sinh ngày 10 tháng 8 năm 1989 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Đ2, sinh năm 1962 và bà Hồ Thị N, sinh năm 1962; có vợ là Lương Thị Hoa T3, sinh năm 1994 và 02 người con, sinh năm 2013 và 2019; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 23/7/2011, bị Công an phường A, thị xã A xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chống người thi hành công vụ số tiền 1.500.000 đồng (đã chấp hành xong).
- Ngày 21/5/2012, bị UBND phường A, thị xã A bị áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã phường thời gian 06 tháng về hành vi đánh nhau (đã chấp hành xong).
- Ngày 12/6/2013, bị Công an phường A, thị xã A xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích số tiền 1.500.000 đồng (đã chấp hành xong).
- Ngày 01/11/2017, bị Công an phường T, thị xã A xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích số tiền 2.500.000 đồng (đã chấp hành xong).
Bị bắt tạm giam ngày 10/6/2020 đến ngày 07/11/2020 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Lê Thành L1 và Trần Đình Đ1: Ông Hoàng Văn H3 - Luật sư Công ty L6 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L và Trần Đình Đ1: Ông Nguyễn Hào H4 - Luật sư Công ty TNHH H6 thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị hại có kháng cáo:
- - Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1983; Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
- - Anh Nguyễn Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Làng Q, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh H có kháng cáo: Chị Đặng Thị Thanh T, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:
- - Ông Ngô Thanh Q2 - Luật sư Văn phòng L7 thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. Có mặt.
- - Ông Nguyễn Văn D - Luật sư Văn phòng L8 thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 11 tháng 01 năm 2020, Trạm thu mua nguyên liệu Sró, chi nhánh N2 đặt tại làng Q, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai có tổ chức tiệc tất niên. Tại đây, Lê Thành L1, Võ Chí C, Lê Thanh L, Trần Đình Đ1, Đoàn Trường Định cùng tham dự và có uống bia. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn tiệc tất niên xong, L và C ngủ tại trạm thu mua nguyên liệu Sró. Còn Đ1 và Đ nhờ L1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 81C-07021 chở đến Trạm thu mua nguyên liệu Đ4. Trên đường đi, L1, Điều, Đ ghé quán phở của chị Lê Thị Ngọc H5 thuộc làng Q, xã S để ăn. Trong lúc chờ chị H5 làm phở thì Điều nhờ L1 chở lên Trạm cân B1 thuộc làng Q, xã S để nói chuyện với Nguyễn Thanh H nên L1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 81C- 07021 chở Điều và Đ đi đến trạm cân B1. Khi đến trạm cân B1, L1, Đ, Điều xảy ra xô xát với H và Nguyễn Huỳnh Thanh H1 nên bị H1 dùng bình xịt hơi cay xịt làm L1, Đ, Điều bỏ chạy về hướng đám cây bạch đàn gần trạm cân. Bị xịt hơi cay, Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Đình S đang ở trạm thu mua nguyên liệu S1 nói về việc bị xịt hơi cay ở trạm cân B và nhờ S xuống chở về nhưng S nói không có xe nên Đ nói chuyển điện thoại gặp C. Lúc này, C đang ngủ không nói chuyện nên Đ cúp máy rồi tiếp tục đi bộ về. Riêng L1 và Điều vẫn ở lại đám cây bạch đàn nhưng không biết về vị trí của nhau. Khoảng 30 phút sau, bà Nguyễn Thị L2 (mẹ của L1) được bà Trần Thị Thu T4 gọi điện báo lại việc đánh nhau tại trạm cân B nên bà L2 nói với chị Đoàn Thị L4 (vợ của L1) rồi chị L4 gọi L dậy chở xuống trạm cân B1 xem sự việc như thế nào. Tuy nhiên lúc chuẩn bị đi do con chị L4 khóc nên L nói chị L4 ở lại để L đi một mình xuống trạm cân B. Khi L điều khiển xe mô tô tới trạm cân Ba T5 và đang ở ngoài đường thì bị H dùng gậy đánh vào vùng hông của L thì được H1 can ngăn. Do bị đánh nên L kêu cứu thì L1 và Điều đang ở đám bạch đàn gần đó nghe thấy nên đi ra xem. Khi đi ra, L1 và Điều mỗi người nhặt một cây gỗ loại rắn chắc, dài khoảng 01 mét, đường kính khoảng 03-05cm bên lề đường đi về phía Lĩnh. Khi L1 và Đ1 đến cùng với L đứng ở ngoài lề đường trước trạm cân Ba T5 còn H và H1 đi vào khu vực phía trước phòng cân. Hai bên đứng cãi nhau qua lại rồi Điều cầm gậy gỗ, H1 một tay cầm bình xịt hơi cay, một tay cầm gậy sắt lao vào đánh nhau ở phía sau đuôi xe tải đỗ trước phòng cân. Điều dùng cây đánh làm H1 rơi bình xịt hơi cay và gậy sắt nên H1 bỏ chạy ra phía ngoài đường. Lĩnh thấy gậy của H1 bị rơi nên nhặt gậy đuổi theo H1 ra tới biển hiệu trạm cân B1 thì dùng gậy kim loại đánh từ trên xuống vào người H1 nhiều lần, Đ1 tiếp tục đuổi theo H1 và dùng gậy gỗ đánh về phía người H1 nhiều lần. Bị đánh, H1 chui vào gầm xe tải để tránh thì Đ1 tiếp tục dùng gậy gỗ đánh về hướng của H1, sau đó H1 chạy vào phòng của trạm cân để trốn. Cùng thời gian này, L1 cầm gậy gỗ chạy về phía H đánh nhau với H. Khi L1 và H đang ôm vật nhau thì H gọi Nguyễn Sanh T6 (cháu ruột của H) vào cùng H đánh L1. Khi L1 kêu cứu thì Đ1 cầm gậy gỗ chạy lại phía L1, thấy Điều đến thì T6 bỏ chạy ra phía sau trạm cân, H chạy ra hướng bàn cân rồi chạy về hướng nhà ông Trương Hoàng C2 cách trạm cân Ba Tùng 145 mét. Lúc này, L cầm gậy sắt đang đứng ở lề đường bê tông trước trạm cân thì thấy H chạy từ trạm cân đi ra nên đuổi theo H. L1 cầm cuốc bàn tại khu vực đánh nhau với H vừa xong, đi ra đường thì thấy L đang chạy về phía nhà anh C2. Nghĩ là L đang đuổi theo H nên L1 chạy theo L vào nhà ông C2 mục đích tìm H để đánh.
Riêng Võ Chí C, sau khi S gọi dậy và nói lại việc Đ có gọi điện thoại cho C nên điều khiển xe mô tô đi đến quán tạp hóa nhà bà N1 thì gặp Đ và nghe sự việc L1, Đ1 và Đ bị H1 xịt hơi cay ở trạm cân Ba T5 nên C chạy vào quán bà N1 lấy 02 cái dao rựa, còn Đ vào trả tiền 02 cái dao rựa rồi quay ra. C chở Đ đến trạm cân B1, trên đường đi, C đưa cho Đ 01 cái dao rựa và C cầm 01 cái dao rựa. Vừa tới trạm cân Ba T5, C thấy L1 đang cầm cuốc bàn chạy hướng vào nhà ông C2. Nghĩ L1 vào nhà ông C2 đánh nhau nên C cầm dao rựa chạy theo L1, Đ cũng cầm dao rựa chạy theo sau.
Đối với H, khi bị L cầm gậy sắt đuổi vào tới bếp nhà ông C2 thì không còn đường chạy nữa nên quay lại kẹp được gậy sắt của L rồi hai bên giằng co với nhau. L1 vào thấy vậy nên đẩy tách L và H ra mục đích không cho H đánh L rồi đẩy cuốc bàn phần lưỡi về phía H thì H kẹp được nên H và L1 giằng co cuốc bàn với nhau. C cầm dao rựa chạy vào, dùng phần sống dao đánh vào chân làm H ngã xuống nền nhà nên L1 kéo được cuốc bàn ra. C tiếp tục dùng phần sống dao rựa đánh nhiều lần vào vùng chân và tay của H. Luân xoay phần lưỡi lại, dùng phần đai cuốc bàn đánh nhiều lần vào người của H. Khi Đ cầm dao rựa chạy vào thấy H đã bị thương nặng, máu chảy nhiều và đang nằm dưới nền nhà nên Đ không đánh H mà đi ra ngoài. Thấy H đã bị thương tích nhiều sợ ảnh hưởng đến tính mạng của H nên L1 nói đừng đánh nữa thì lần lượt L rồi đến L1 và C đi ra khỏi nhà ông C2. Nhóm của L1 quay lại xe ô tô biển kiểm soát 81C-07021 thì không còn chìa khóa trên xe do trước đó sau khi nhóm của L1 bị xịt hơi cay bỏ chạy thì H đã lấy chìa khóa xe. Khi nghe H đang giữ chìa khóa xe thì C quay lại bếp của nhà ông C2 đe dọa chém H để lấy chìa khóa nhưng không chém rồi lấy chìa khóa xe ô tô từ túi quần của H rồi bỏ đi. Sau đó, L1 được đưa đến Bệnh xá Sư đoàn 2 thuộc thị xã A để sơ cứu sau đó đến điều trị tại Trung tâm y tế thị xã A. H1 và H được đưa đến Bệnh viện P để cấp cứu.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 17/20/TgT ngày 26/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh G xác định Nguyễn Huỳnh Thanh H1 tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13%.
Kết luận giám định vật gây thương tích số 272/KLVGTT-TTPY ngày 31/5/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G về nội dung giám định vật gây thương tích và cơ chế gây thương tích đối với vết thương của Nguyễn Huỳnh Thanh H1 như sau:
- + Cơ chế: do sự tác động trực tiếp.
- + Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật tày. Vì vậy, vật được Cơ quan CSĐT Công an huyện K cung cấp là vật phù hợp có thể gây ra thương tích (01 sẹo vết thương phần mềm ở vùng đỉnh – thái dương phải, 01 sẹo mổ kết hợp xương ở 1/3 giữa mặt sau cẳng tay phải và gãy 1/3 giữa xương trụ phải) của ông Nguyễn Huỳnh Thanh H1. Mẫu vật được trưng cầu là một ống kim loại hình trụ tròn dài 115cm, đường kính 3,5cm, dày 0,2cm. Một đầu được hàn một vòng kim loại đường kính 3,8cm, dày 0,2cm, dài 3,5cm, có một cạnh kích thước (2x2)cm. Trọng lượng 1364 gram.
Xem xét hình ảnh do Nguyễn Huỳnh Thanh H1 cung cấp gồm một hình ảnh có vết thương hở và một tấm hình chụp một vết thương rõ nét (vết thương đã khâu). Quá trình điều tra, đã tiến hành đã áp dụng các biện pháp cần thiết; tuy nhiên không thể kết luận được xuất xứ hình ảnh vết thương vùng đầu do H1 cung cấp.
Xem xét vết thương theo ảnh do H1 cung cấp có phải là vết thương gây ra sẹo vết thương phần mềm ở vùng đỉnh – thái dương phải theo Kết luận giám định số 17/20/TgT ngày 26/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh G đối với thương tích của H1 cho thấy không đủ căn cứ xác định. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh cho thấy: vết sẹo vùng thái dương phải là một vết sẹo duy nhất vùng đầu của Nguyễn Huỳnh Thanh H1, một tấm hình chụp một vết thương rõ nét (đã khâu) phù hợp với hình ảnh đã khâu vết thương và có hình ảnh vật xung quanh giống tại Bệnh viện P1. Đối với một hình ảnh có vết thương hở không phù hợp nên không tiến hành trưng cầu giám định.
Đối với kết quả chụp cắt lớp vi tính thể hiện “Vùng giảm đậm độ (dịch) trán phải – Nghĩ tổn thương cũ???” là do H1 từng bị vết thương khác vùng đầu trước khi bị thương tích lần này. Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tiến hành điều tra, xác minh và làm việc với anh Nguyễn Huỳnh Thanh H1 xác định vết thương trên là vết thương cũ vào năm 2001 do tai nạn.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 18/20/TgT ngày 26/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh G đối với thương tích của Nguyễn Thanh H xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 49%.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 36/20/TgT ngày 04/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh G đối với thương tích của Lê Thành L1 xác định tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 16% và đã được xử lý trong vụ án khác.
Kết luận giám định pháp y tâm thần số 508/KL-VPYTW ngày 17/8/2022 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B2 đối với Lê Thành L1 kết luận: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm. Tại thời điểm xảy ra vụ việc: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Kết luận giám định pháp y tâm thần số 120/KLGĐ ngày 28/5/2021 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực T đối với Nguyễn Thanh H cho thấy trước, trong và sau khi xảy ra vụ việc, Nguyễn Thanh H bị bệnh rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm; hiện tại giai đoạn bệnh chưa ổn định. Trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc, H hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ, Lê Thành L1 và Trần Đình Đ1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Võ Chí C 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đây là 06 (sáu) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày, như vậy thời gian bị cáo còn phải chấp hành là 05 (năm) năm 11 (mười một) tháng 05 (năm) ngày tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đây là 04 (bốn) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày, như vậy thời gian bị cáo còn phải chấp hành là 05 (năm) năm 01 (một) tháng 03 (ba) ngày tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Đoàn Trường Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 03/3/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 54 và Điểu 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lê Thành L1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trần Đình Đ1 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giam ngày 10/6/2020 đến ngày 07/11/2020.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Kháng cáo của các bị cáo:
- + Ngày 12/4/2024, các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Định và Trần Đình Đ1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
- + Ngày 12/4/2024 bị cáo Lê Thành L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
- + Ngày 15/4/2024, bị hại Nguyễn Thanh H và người đại diện hợp pháp của bị hại chị Đặng Thị Thanh T kháng cáo đề nghị tăng tăng hình phạt đối với các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ và Lê Thành L1; xem xét bị cáo Trần Đình Đ1 phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự đối với 49% tổn thương cơ thể của bị hại H với các bị cáo khác. Bị hại Nguyễn Huỳnh Thanh H1 kháng cáo không đồng ý tòa sơ thẩm xét xử hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Thanh L và Trần Đình Đ1 về tội “Cố ý gây thương tích”.
- + Ngày 04/7/2024, người đại diện hợp pháp của bị hại chị Đặng Thị Thanh T kháng cáo bổ sung đề nghị không sử dụng Kết luận giám định pháp y tâm thần của Viện pháp y tâm thần Trung ương B2 để làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo L1.
- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
- + Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp người bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- + Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp người bị hại và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- + Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo có quan điểm: Sau phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường xong cho các bị hại; bị cáo L và bị cáo L1 bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo L1 khi phạm tội có bệnh hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên cho bị cáo được hưởng án treo.
- + Các luật sư của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quan điểm: Không đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Tòa sơ thẩm chưa đánh giá đúng tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; bị hại không có lỗi, nhưng không áp dụng tình tiết tăng nặng có tính chất côn đồ đối với các bị cáo là thiếu sót; hành vi của bị cáo Đ1 và L gây thương tích cho anh H1 là phạm tội giết người; không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo L1 vì kết quả giám định không đúng trình tự thủ tục, nội dung theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn Kháng cáo các bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp người bị hại trong thời hạn luật định, đúng phạm vi kháng cáo, nên được xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khai nhận:
Trưa ngày 11 tháng 01 năm 2020, tại Trạm thu mua nguyên liệu Sró, chi nhánh N2 thuộc làng Q, xã S, huyện K, tỉnh Gia Lai tổ chức tiệc tất niên. Tại đây, Lê Thành L1, Võ Chí C, Lê Thanh L, Trần Đình Đ1 và Đoàn Trường Đ cùng tham dự và uống bia. Sau khi tan tiệc Điều nhờ L1 dùng xe ô tô biển kiểm soát 81C-07021 chở Điều và Đ đi đến trạm cân B1 thuộc làng Q, xã S để nói chuyện với Nguyễn Thanh H. Khi đến nơi, L1, Điều và Đ xảy ra xô sát với H và H1. H1 dùng bình xịt hơi cay xịt làm L1, Đ, Điều bỏ chạy về hướng đám cây bạch đàn. Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Đình S và C nhờ chở về nhưng không được nên tiếp tục đi bộ về.
Khoảng 30 phút sau, biết việc đánh nhau L điều khiển xe mô tô tới thì bị H dùng gậy đánh vào vùng hông, L kêu cứu thì L1 và Điều đang ở đám bạch đàn gần đó mỗi người nhặt một cây gỗ loại rắn chắc, dài khoảng 01 mét, đường kính khoảng 03-05cm đến đứng ở lề đường, Điều cầm gậy gỗ, H1 một tay cầm bình xịt hơi cay, một tay cầm gậy sắt lao vào đánh nhau. Điều dùng cây đánh làm H1 rơi bình xịt hơi cay và gậy sắt, H1 bỏ chạy. Lĩnh nhặt cây gậy kim loại của H1 làm rơi đuổi theo đánh từ trên xuống vào người H1 nhiều lần, Đ1 tiếp tục đuổi theo H1 và dùng gậy gỗ đánh về phía người H1 nhiều lần, sau đó H1 chạy vào phòng của trạm cân để trốn.
Cùng thời gian này, L1 cầm gậy gỗ đánh nhau với H. H gọi Nguyễn Sanh T6 (cháu ruột của H) vào cùng đánh L1. Khi L1 kêu cứu thì Đ1 cầm gậy gỗ chạy chạy tới thì T6, H bỏ chạy. L cầm gậy sắt đuổi theo H. C và Đ cầm dao rựa lần lượt chạy theo, C cầm dao rựa chạy vào dùng phần sống dao đánh vào chân làm H ngã xuống nền nhà. C tiếp tục dùng phần sống dao rựa đánh nhiều lần vào vùng chân và tay của H. L1 dùng phần đai cuốc bàn đánh nhiều lần vào người H. Sau đó, L1 được đưa đến Bệnh xá Sư đoàn 2 thuộc thị xã A để sơ cứu sau đó đến điều trị tại Trung tâm y tế thị xã A. H1 và H được đưa đến Bệnh viện P1 để cấp cứu.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 17/20/TgT ngày 26/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh G đối với thương tích của Nguyễn Huỳnh Thanh H1 tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 18/20/TgT ngày 26/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh G đối với thương tích của Nguyễn Thanh H tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 49%.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 36/20/TgT ngày 04/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh G đối với thương tích của Lê Thành L1 tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 16% và đã được xử lý trong vụ án khác.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ và Lê Thành L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Đình Đ1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, các bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại thấy rằng:
[2.1] Đối với kháng cáo của các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ và Trần Đình Đ1 xin giảm nhẹ hình phạt và kháng cáo của bị cáo Lê Thành L1 xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo:
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của các bị hại và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, phân hóa vai trò đồng phạm và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo C, L, Đ, Đ1 đều là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo C phạm tội với 02 tình tiết định khung là “Sử dụng hung khí nguy hiểm” và “Phạm tội có tính chất côn đồ”, các bị cáo C, L, Đ, L1 “Phạm tội đối với người bị hạn chế khả năng nhận thức” đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tù có thời hạn xử phạt bị cáo Võ Chí C mức án 06 năm 06 tháng tù, bị cáo Lê Thanh L 05 năm 06 tháng tù, bị cáo Đ3 Trường Định 04 năm 06 tháng tù, bị cáo Lê Thành L1 mức án 02 năm 06 tháng tù và bị cáo Trần Đình Đ1 20 tháng tù là tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
[2.2] Đối với kháng cáo của các bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại tăng hình phạt đối với các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ và Lê Thành L1:
Trong vụ án này, khi L1, L, Điều đến gặp anh H chỉ để nói chuyện, đều không mang theo hung khí. Sau khi hai bên mâu thuẫn và xảy ra xô xát thì nhóm của L1 đã bị Nguyễn Huỳnh Thanh H1 xịt hơi cay nên đã bỏ chạy vào đám bạch đàn gần đó. Việc mâu thuẫn, xô xát giữa hai bên đã chấm dứt tại thời điểm này. Đến khi L đến thì H chủ động dùng hung khí tấn công trong khi L không mang theo hung khí và cũng không có lời lẽ hay hành vi tác động đến H. Khi L bị đánh kêu cứu thì L1 và Điều ở đám cây bạch đàn gần đó mới cầm gậy quay lại nhưng chỉ đứng ngoài đường, sau khi có lời lẽ chửi bới, thách thức thì hai bên đều cầm hung khí, đánh nhau.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, hành vi của các bị cáo là bộc phát nhất thời, cùng thực hành, không có sự bàn bạc phân công nhiệm vụ từ trước. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ và Lê Thành L1 và áp dụng mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo. Riêng bị cáo C tự ý dùng sống rựa đánh nhiều lần vào vùng chân và tay H, là người gây thương tích chính cho bị hại H nên đã bị áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại về tăng hình phạt đối với các bị cáo.
[2.3] Về kháng cáo xem xét bị cáo Trần Đình Đ1 phải liên đới chịu trách nhiệm hình sự đối với 49% tổn thương cơ thể của bị hại H:
Khi nhóm của L1, Điều, L đứng trước trạm cân thì H có lời lẽ chửi bới, thách thức (việc này thể hiện tại băng ghi hình do bị hại H ghi lại). Sau đó, nhóm của L1, Đ1, L xông vào đánh nhóm của H, H1.
Những người làm chứng trong vụ án là các anh Đinh A, Đinh B, Đinh L5, Đinh Q3 khai: Thấy 02 người đánh H1, trong đó có 01 người không mặc áo, có hình xăm; anh H1 cũng có lời khai phù hợp với người làm chứng cho rằng: Anh bị Đ1 và L lao vào đánh, còn H đứng phía sau nên H1 không biết. Quá trình điều tra lại, anh H1 giữ nguyên các nội dung đã trình bày, không bổ sung, thay đổi gì; bị cáo Đ1 khai không đánh H tại trạm cân mà bị cáo cùng L xông vào đánh H1. Đối với thương tích của H1, trong quá trình điều tra đã được chứng minh rất rõ về đối tượng, vật gây thương tích. Hơn nữa, tại bản án đã có hiệu lực pháp luật về việc xét xử Nguyễn Thanh H và Nguyễn Sanh T6 về tội “Cố ý gây thương tích” cũng không có nội dung thể hiện việc Đ1 đánh H tại trạm cân. Quá trình điều tra bị hại và người đại diện hợp pháp cũng không có đơn khiếu nại liên quan đến hành vi của Điều gây thương tích cho bị hại H, nên kháng cáo về nội dung này Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để xem xét.
[2.4] Về kháng cáo của bị hại Nguyễn Huỳnh Thanh H1 không đồng ý với nhận định và quyết định của tòa sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Thanh L và Trần Đình Đ1 về tội “Cố ý gây thương tích”.
Xem xét diễn biến vụ án và hành vi của các bị cáo thấy rằng: Khi Điều cầm gậy gỗ, H1 một tay cầm bình xịt hơi cay và một tay cầm gậy sắt lao vào đánh nhau. Điều dùng cây đánh làm H1 rơi bình xịt hơi cay và gậy sắt nên H1 bỏ chạy ra phía ngoài đường; L thấy gậy của H1 bị rơi nên nhặt gậy đuổi theo H1 ra tới biển hiệu trạm cân B1 thì dùng gậy kim loại đánh từ trên xuống vào người H1 nhiều lần, H1 chạy thì Đ1 tiếp tục đuổi theo dùng gậy gỗ đánh về phía người H1 nhiều lần. Bị đánh, H1 chui vào gầm xe tải để tránh thì Đ1 tiếp tục dùng gậy gỗ đánh về hướng của H1, sau đó H1 chạy vào phòng của trạm cân để trốn. Như vậy L và Điều chỉ biết đánh về phía H1. Các bị cáo không có chủ đích đánh vào vùng trọng yếu cơ thể H1, việc này phù hợp với các vết thương của H1 và các bị hại khác đã được giám định thuộc vùng tay, chân. Bị hại H1 tuy có một vết thương vùng đầu với thương tích được giám định 2% nhưng quá trình sơ cấp cứu, điều trị thấy là vết thương phần mềm vùng đầu, việc điều trị chỉ gồm “Khâu vết thương phần mềm đơn giản/ rách da đầu” hoặc không đề cập đến, cho thấy lực tác động ở vùng đầu không đáng kể, các vết thương này đều không thuộc trường hợp nguy hiểm đến tính mạng. Khi thấy H bị thương tích nhiều sợ ảnh hưởng đến tính mạng thì L1 nói không đánh nữa,thì lần lượt L, L1, C đi ra khỏi nhà ông C3. Như vậy các bị cáo hoàn toàn không có ý thức nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Đ1 và L về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
[2.5] Đối với kháng cáo bổ sung của đại diện hợp pháp bị hại Nguyễn Thanh H đề nghị không sử dụng bản giám định kết luận giám định pháp y tâm thần số: 508/ KL- VPYTW ngày 17/8/2022 để làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Lê Thành L1 với lý do: L1 không có biểu hiện hạn chế năng lực hành vi; có nhiều sai phạm về thủ tục, trình tự giám định; cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định cho L1, cung cấp tài liệu cần thiết cho việc giám định chưa đúng.
Theo quy định tại Mục I Phụ lục I Ban hành kèm theo Thông tư số: 23/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y về qui trình giám định pháp y tâm thần qui định: “1. Người giám định pháp y tâm thần là người được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm làm Giám định viên pháp y tâm thần... Mỗi trường hợp giám định pháp y tâm thần thông thường có 03 GĐV tham gia. Trường hợp phức tạp, có khó khăn trong việc xác định bệnh, đánh giá năng lực hành vi, có sự tham gia của nhiều chuyên khoa khác nhau, giám định lại lần thứ nhất (giám định lại lần I) thì có thể có 05 GĐV tham gia. 2. .. Mỗi trường hợp giám định cần phải có 02 điều dưỡng viên giúp việc”; và theo Điều 30 luật giám định tư pháp 2012 quy định: “. Hội đồng giám định gồm có ít nhất 03 thành viên là những người có chuyên môn cao và có uy tín trong lĩnh vực cần giám định. Hội đồng giám định hoạt động theo cơ chế giám định tập thể...”.
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định số: 545/QĐ-CSDT ngày 23-6-2022 để trưng cầu giám định đối với Lê Thành L1 theo qui định. Theo bản giám định pháp y tâm thần số: 508/ KL- VPYTW ngày 17/8/2022 của Viện giám định pháp y tâm thần trung ương B2 thì có 05 Người thực hiện giám định. Quá trình giám định về lịch sử bản thân của Lê Thành L1 “...Từ 17-10-2018 khám điều trị ngoại trú tại bệnh viện chuyên khoa ngoại thần kinh Quốc tế Thành phố H với chuẩn đoán: Rối loạn lo âu, uống thuốc 2 tháng. Từ đó đến ngày 01-20-2019 cũng khám và điều trị tại bệnh viện trên uống thuốc 10 ngày. từ ngày 07 - 05 – 2019 đến ngày 29-9-2019 khám và điều trị tại bệnh viện trên uống thuốc 02 tháng” và kết luận đối với Lê Thành L1: Trước, trong, sau khi xảy ra vụ việc và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm. Tại thời điểm xảy ra vụ việc: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Do đó kháng cáo của đại diện hợp pháp người bị hại anh Nguyễn Thanh H về nội dung này là không có cơ sở để chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, các bị hại, đại diện hợp pháp người bị hại anh Nguyễn Thanh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ, Trần Đình Đ1 và Lê Thành L1, các bị hại Nguyễn Thanh H và Nguyễn Huỳnh Thanh H1, đại diện hợp pháp người bị hại anh Nguyễn Thanh H: Chị Đặng Thị Thanh T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai.
Tuyên bố các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn Trường Đ, Lê Thành L1 và Trần Đình Đ1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Võ Chí C 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giam ngày 28/4/2020 đến ngày 23/11/2020.
- - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; các Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giam ngày 10/6/2020 đến ngày 07/11/2020.
- - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Đoàn Trường Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 03/3/2024.
- - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, e, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 54 và Điểu 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lê Thành L1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Trần Đình Đ1 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giam ngày 10/6/2020 đến ngày 07/11/2020.
-
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí tòa án:
Các bị cáo Võ Chí C, Lê Thanh L, Đoàn T, Lê Thành L1 và Trần Đình Đ1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Sinh |
Bản án số 43/2024/HSPT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 43/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, bị hại
