Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ SÊ

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 43/2024/HSST

Ngày 23 - 8 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Văn Thiên.
  2. Ông Siu Y Bik.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST – HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Siu Quên (tên gọi khác: N),

sinh ngày 16/7/2005 tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: làng P, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Siu H và bà Siu T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 02, ngày 26/8/2021 có hành vi Trộm cắp tài sản tại thôn M, thị trấn C (Do tài sản không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự). Công an thị trấn C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 750.000đ (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng), theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 23/9/2021 (chưa chấp hành nộp phạt); ngày 19/01/2022 có hành vi Hủy hoại tài sản tại thôn H, thị trấn C. Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000277 ngày 18/02/2022 (chưa chấp hành nộp phạt); nhân thân: Ngày 17/6/2021 và ngày 29/6/2021 có hành vi Trộm cắp tài sản tại xã D và thị trấn C, do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Công an thị trấn C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000056 ngày 30/8/2021 bằng hình thức cảnh cáo. Từ ngày 31/12/2021 đến ngày 19/01/2022, Siu Q cùng đồng bọn có hành vi Trộm cắp tài sản, bị Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xử phạt 1 năm 06 tháng tù theo bản án số 14/HSST ngày 10/5/2022, đã chấp hành án tại Trại giam G đến ngày 13/7/2023 thì chấp hành xong (đã được xoá án tích theo điểm b khoản b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự; bị bắt tạm giữ ngày 22/3/2024 đến ngày 31/3/2024, tạm giam từ ngày 31/3/2024 đến nay; số căn cước công dân: [...] do Cục C và TTXH – Bộ C1 cấp ngày 15/8/2021. Có mặt.

- Bị hại:
Anh Lê Đình N1, sinh năm 1991; nơi cư trú: làng P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Huy T1, sinh năm 1992; nơi cư trú: làng P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt

- Người làm chứng:

  • + Anh Thành D, sinh năm 1982; nơi cư trú: làng P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt
  • + Chị Lưu Thị L, sinh năm 1994; nơi cư trú: làng P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt

- Người phiên dịch tiếng Gia Rai: Ông Siu Tơ L1, nguyên cán bộ Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 22 giờ ngày 21/3/2024, Siu Q, sinh ngày 16/7/2005, trú tại: Làng P, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai một mình đi bộ đến kho của Công ty cổ phần T2” thuộc Làng Pang, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai để trộm cắp chanh dây bán lấy tiền chơi game. Trước khi đi, Siu Q mang theo 01 con dao dài 18cm, mũi dao nhọn, bỏ trong túi quần phải (con dao này Siu Q thường dùng để cắt trái cây). Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 22/3/2024, Siu Q đến Công ty cổ phần T2”, trèo qua tường rào bên hông rồi vào phía trong kho của Công ty. Ngay lúc này, anh Lê Đình N1 (sinh năm 1991, trú tại: Làng P, xã I, là nhân viên của Công ty) đi kiểm tra phát hiện Siu Quên. Thấy vậy, Siu Q trốn vào trong 01 phòng không có ai ở. Lúc đó, anh N1 cầm 01 con dao dài 37cm và hét lên: “nằm xuống không tao đánh”, rồi dùng tay túm tóc kéo Siu Q ra ngoài hành lang dùng dao gõ vào đầu của Siu Q. Vì sợ bị đánh và để bỏ chạy nên Siu Q lấy con dao trong túi quần bên phải mang theo từ trước đâm 01 cái vào lưng trái, 01 cái vào tay trái của anh N1 gây thương tích. Anh N1 ôm vật Siu Quên xuống đất, giằng co để lấy con dao thì bị thêm một số vết thương ở tay và chân. Sau đó, anh N1 gọi anh Lê Huy T1 (sinh năm 1995, chỗ ở: Làng P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) cùng mọi người bắt giữ Siu Quên, giao cho Cơ quan Công an. Hậu quả, anh N1 bị thương phải điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh G, anh Lê Huy T1 bị xây xước nhẹ.

Ngày 25/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định số: 236/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh G giám định mức độ tổn hại sức khỏe, vật gây thương tích và cơ chế hình thành thương tích của Lê Đình N1.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 157/KLTTCT - TTPY, ngày 29/3/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận mức độ tổn hại sức khỏe của Lê Đình N1:
1.Các kết quả chính:

  • - 01 vết thương phần mềm nằm xiên bờ ngoài cơ thẳng lưng trái ở khoảng liên sườn 7-8 bên trái:1%.
  • - 01 vết thương phần mềm nằm xiên 1/3 giữa mặt ngoài cánh tay trái: 2%.
  • - 01 vết thương xây sát da mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái: 2%
  • - 01 vết thương mặt mu khớp liên đốt ngón II bàn tay phải: 1%
  • - 01 vết thương mặt mu khớp liên đốt ngón III bàn tay trái: 1%
  • - 01 vết thương mặt mu kẽ xương bàn 4-5 bàn tay phải: 1%
  • - 01 vết xây sát da 1/3 trên cẳng chân phải: 3%
  • - 01 vết thương xây sát da mặt trước gối trái: 2%
  • - 01 vết thương xây sát da mặt trong 1/3 trên cẳng chân trái: 2%
  • - 01 vết thương xây sát da 1/3 trên cẳng chân trái: 2%
2. Kết luận:
  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình N1 tại thời điểm giám định là: 15,77% = 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • + Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp.
  • + Vật gây thương tích: Đối với vết thương phần mềm nằm xiên bờ ngoài cơ thẳng lưng trái ở khoảng liên sườn 7-8 bên trái, vết thương phần mềm nằm xiên 1/3 giữa mặt ngoài cánh tay trái: Phù hợp với sự tác động của vật sắc bén, mũi nhọn. Do vậy, 01 (một) con dao được Cơ quan CSĐT công an huyện C trưng cầu là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên.

Ngày 22/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Quyết định số: 304/QĐ-ĐCSHS, trưng cầu Phòng K, Công an tỉnh G giám định:

  • + Trên 01 (một) con dao dài 18cm, cán dao bằng gỗ dài 9,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao bị cong (mũi dao nhọn, trên mũi dao có dính chât màu nâu nghi là máu) gửi giám định có máu không? Máu người hay máu động vật? Nếu là máu người thì xác định nhóm máu?.
  • + Chất màu nâu nghi máu ghi thu tại hiện trường được niêm phong gửi giám định có phải là máu không? Máu người hay máu động vật? Nếu là máu người thì xác định nhóm máu?.
  • + Xác định nhóm máu Lê Đình N1, Lê Huy T1?

Tại Bản kết luận giám định số 449/KL-KTHS, ngày 08/5/2024 của Phòng K, Công an tỉnh G, kết luận:

  • + Trên con dao dài 18cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao bị cong, cán dao bằng gỗ dài 9,5cm (Mẫu ký hiệu A1) trong bì công văn niêm phong gửi giám định: có máu người, nhóm máu O.
  • + Chất màu nâu nghi máu dạng bột (Mẫu ký hiệu A2) trong túi nilon niêm phong Mã số NS3 2005794 gửi giám định: là máu người, nhóm máu O.
  • + Mẫu máu trong ống nghiệm bằng nhựa ghi thu máu Lê Đình N1: Nhóm máu O.
  • + Mẫu máu trong ống nghiệm bằng nhựa ghi thu máu Lê Huy T1: Nhóm máu O.

Theo bản cáo trạng số 33/CT – VKS ngày 12/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo: Siu Quên (tên gọi khác: N) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Siu Q (tên gọi khác: N) từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù.

Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án. Về phần án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng khác:

  • - Người bị hại anh N1 và người có quyền lợi liên quan là anh T1 có lời khai trong hồ sơ phù hợp với lời khai của bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì và đề nghị xử phạt bị cáo theo pháp luật.
  • - Những người làm chứng có lời khai trong hồ sơ phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa được thể hiện: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 22/3/2024, Siu Q trèo tường rào vào công ty “Bảo Long” tại Làng P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai mục đích để trộm cắp tài sản, nhưng khi chưa thực hiện được hành vi thì bị anh Lê Đình N1 phát hiện. Anh N1 cầm 01 con dao dọa đánh bị cáo, nên Siu Q lấy 01 con dao dài 18cm, cán bằng gỗ trong túi quần bên phải mang theo từ trước, đâm 01 cái vào lưng trái, 01 cái vào tay trái của anh N1. Sau đó, anh N1 ôm vật Siu Quên xuống đất, giằng co để lấy con dao thì bị một số vết thương ở tay và chân. Hậu quả anh N1 phải đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện T3 là 16% (Mười sáu phần trăm).

Xét lời khai của bị cáo là phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, bị cáo Siu Q (tên gọi khác: N) đã phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, chỉ vì hám lợi mà bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào quyền bảo vệ sức khoẻ của công dân được nhà nước và pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm cho quần chúng nhân dân hết sức bất bình.

Mặc dù, hành vi gây thương tích của bị cáo gây thiệt hại cho sức khoẻ của anh N1 là 16%, nhưng bị cáo đã dùng dao sắc nhọn là loại hung khí nguy hiểm (theo tinh thần hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 và tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) để phạm tội đối với anh N1. Vì vậy, phải coi đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

[3]Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

[4]Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Bị cáo chưa có tiền án, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần xem đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phù hợp quy định của pháp luật.

[5]Về tiền sự: Bị cáo là người có 02 tiền sự. Một tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản và một tiền sự về hành vi Huỷ hoại tài sản như phân tích tại phần lý lịch bị cáo.

[6]Về nhân thân: Bị cáo nhân thân xấu, một lần bị xử phạt cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản và một lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản như đã phân tích tại phần lý lịch bị cáo.

[7]Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử : Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Siu Q từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù.

[8]Hội đồng xét xử xét thấy, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, ý kiến bị hại là có căn cứ cần xem xét.

Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo mức tù phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo gây ra, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh N1 không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường gì về mặt dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.

[10] Về vật chứng, xét:

  • 01 (một) con dao dài 18cm, cán dao bằng gỗ dài 9,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao bị cong được niêm phong trong 01 (một) bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G, có đặc điểm: mặt trước có dòng chữ “449/PC09, ngày 08 tháng 5 năm 2024”, ghi ký hiệu (1), tại mép dán mặt sau có các hình con dấu tròn, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*”, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Trần Minh D1 và Lê Xuân H1 mà bị cáo sử dụng để đâm anh N1;
  • 01 con dao dài 37cm, cán dao bằng kim loại dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm mà anh N1 sử dụng để khống chế bị cáo;
  • Chất màu nâu dạng bột sau giám định được niêm phong trong một bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G có đặc điểm: mặt trước có dòng chữ “449/PC09, ngày 08 tháng 5 năm 2024”, ghi ký hiệu (1), tại mép dán mặt sau có các hình con dấu tròn, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*”, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Trần Minh D1 và Lê Xuân H1
Đều là vật chứng của vụ án, không có giá trị, nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
(Vật chứng trên có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Sê và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C).

[11]Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

[12] Tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:

  • - Đối với Siu Q có hành vi đi đến đến kho của Công ty cổ phần T2” thuộc Làng Pang, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai để trộm cắp chanh dây. Tuy nhiên Siu Quên chưa trộm cắp được tài sản, trong kho của Công ty cổ phần T2” không có chanh dây. Do đó, hành vi trên của Siu Q chưa đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, cơ quan CSĐT Công an huyện C không đề xập xử lý là phù hợp.
  • - Đối với Lê Đình N1 có hành vi dùng tay túm tóc và dùng sống dao gõ lên đầu của Siu Q trong khi bắt giữ Siu Quên, tuy nhiên Siu Quên không có thương tích, không có hậu quả, Siu Quên không đi Bệnh viện điều trị, không có hồ sơ. Do đó, hành vi trên của Lê Đình N1 chưa đảm bảo các điều kiện để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo điểm a, khoản 5, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện C không đề cập xử lý đối với Lê Đình N1 là phù hợp.
  • - Đối với anh Lê Huy T1 trong lúc bắt giữ Siu Quên anh T1 bị trầy xước ở cánh tay trái, tuy nhiên anh T1 không đi điều trị tại Bệnh viện, không có hậu quả, không có hồ sơ. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện C không đề cập xử lý đối với Siu Q về vết trầy xước cánh tay trái của anh Lê Huy T1 là phù hợp.

[13]Về kiến nghị: Không.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Siu Q (tên gọi khác: N) phạm tội “Cố ý gây thương tích".

    Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo:

    Siu Quên (tên gọi khác: N) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 22/3/2024.

  2. Về vật chứng:

    Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu, tiêu hủy gồm:

    • 01 (một) con dao dài 18cm, cán dao bằng gỗ dài 9,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, mũi dao bị cong được niêm phong trong 01 (một) bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G, có đặc điểm: mặt trước có dòng chữ “449/PC09, ngày 08 tháng 5 năm 2024”, ghi ký hiệu (1), tại mép dán mặt sau có các hình con dấu tròn, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*”, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Trần Minh D1 và Lê Xuân H1;
    • 01 con dao dài 37cm, cán dao bằng kim loại dài 11cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm;
    • Chất màu nâu dạng bột sau giám định được niêm phong trong một bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh G có đặc điểm: mặt trước có dòng chữ “449/PC09, ngày 08 tháng 5 năm 2024”, ghi ký hiệu (1), tại mép dán mặt sau có các hình con dấu tròn, nội dung “CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*”, các chữ ký, chữ viết ghi họ tên: Trần Minh D1 và Lê Xuân H1.

    (Vật chứng trên có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Sê và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:

    Buộc bị cáo Siu Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -Bị cáo;
  • -Bị hại;
  • -NCQLNVLQ;
  • -VKSND huyện Chư Sê;
  • -CA huyện Chư Sê;
  • -THAHS;
  • -CC.THADS huyện Chư Sê;
  • -TAND tỉnh Gia Lai;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger