|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 26 tháng 4 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Đợi, ông Nguyễn Thanh Sơn
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 và ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/HSST ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024:
Lê Văn N, sinh năm 1978 tại C - An Giang, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D và bà Cao Thị M (đều đã chết); anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là người thứ năm; vợ Nguyễn Thị Thúy A (đã ly hôn); con có 03 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 13/08/1997, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong năm 1998, xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2023 cho đến nay.
Bị hại:
- - Mã Thị B, sinh năm 1951; nơi cư trú: số D đường T, tổ D, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Lê Bá T, sinh năm 1988; nơi cư trú: số H đường T, tổ D, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1969; nơi cư trú: số A đường L, tổ C, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Huỳnh Quốc K, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ D, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Phạm Quốc H, sinh năm 1981; nơi cư trú: số C đường T, tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Lê Đức D1, sinh năm 1982; nơi cư trú: đường T, tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Trần Văn L, sinh năm 1942; nơi cư trú: đường T, tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Bùi Ngọc C, sinh năm 2001; nơi cư trú: đường T, tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Lê Thị C1, sinh năm 1969; nơi cư trú: đường T, tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Lê Thị Tuyết M1, sinh năm 1966; nơi cư trú: đường T, tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Cù Quốc K1, sinh năm 2001; nơi cư trú: đường T, tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Nguyễn Thị M2, sinh năm 1948; nơi cư trú: số C đường L, tổ C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Nguyễn Thị Trà M3, sinh năm 2001; nơi cư trú: số A đường S, tổ A, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Trần Văn B1, sinh năm 1972; nơi cư trú: số D đường L, tổ C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Mã Thành D2, sinh năm 1986; nơi cư trú: số A đường L, tổ C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Trần Xuân P, sinh năm 1989; nơi cư trú: số A đường S, tổ D, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1965; nơi cư trú: số A đường S, tổ A, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Trần Thanh C2, sinh năm 1997; nơi cư trú: số A đường S, tổ A, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Dương Văn C3, sinh năm 1997; nơi cư trú: số A đường S, tổ A, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Từ Văn A1, sinh năm 1960; nơi cư trú: tổ G, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Trần Ngọc V1, sinh năm 1964; nơi cư trú: số E đường S, tổ D, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Nguyễn Quang V2, sinh năm 1957; nơi cư trú: số A đường N, tổ I, khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- - Lê Thị Kim N1, sinh năm 1970; nơi cư trú: số A đường P, tổ C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đỗ Thành N2, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
Người làm chứng: Cù Văn C4, sinh năm 1940.
Bị hại Nguyễn Quang V2 có mặt; các bị hại khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, Lê Văn N nảy sinh ý định lấy trộm đồng hồ nước của các hộ dân trên địa bàn thành phố C, tỉnh An Giang.
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/11/2023, N mang theo kềm bấm và túi nylon, đi bộ đến khu vực đường T, khóm V, phường V, tháo gỡ lấy 07 đồng hồ nước của 07 hộ dân; đến đường L và đường T, khóm A, phường C, tháo gỡ lấy 04 đồng hồ nước của 04 hộ dân, tổng cộng được 11 đồng hồ nước, mang bán cho người nữ thu mua phế liệu dạo (không rõ lai lịch), được 450.000 đồng, tiêu xài hết 50.000 đồng. Các hộ dân trên trình báo Cơ quan Công an. Bị phát hiện, khoảng 18 giờ cùng ngày, N đầu thú, giao nộp 400.000 đồng còn lại.
Nhỏ còn khai: Trước đó, từ ngày 25/10/2023 đến ngày 01/11/2023, bằng cách thức trên, N đã lấy trộm đồng hồ nước của các hộ dân khác, cụ thể:
Trên địa bàn thành phố C, N lấy trộm 34 đồng hồ nước, trong đó xác định được 12 đồng hồ nước của 12 hộ dân trên địa bàn phường C bị mất trộm (các hộ dân đến Cơ quan Công an trình báo); 22 đồng hồ nước còn lại, không xác định được các hộ dân bị mất trộm. Sau đó, N mang 34 đồng hồ nước này bán cho Đỗ Thành N2, được 1.580.000 đồng, tiêu xài hết.
Trên địa bàn huyện A, N lấy trộm 13 đồng hồ nước nhưng không xác định được địa điểm cụ thể và các hộ dân bị mất trộm, N nhờ Cao Văn X (bạn của N) bán dùm, chưa nhận tiền.
Vật chứng thu giữ:
- - 34 (ba mươi bốn) đồng hồ nước (đã qua sử dụng, còn lại phần vỏ bằng kim loại), màu xanh và trắng;
- - Tiền Việt Nam 400.000 đồng;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Newsday MODEL, vỏ máy màu đen, số Imel 1: 862655040994855, Imel 2: 862655040994863, gắn sim số Viettel số 0372.332.xxx;
- - 01 (một) áo sơ mi tay ngắn, sọc caro màu đỏ - xanh - trắng;
- - 01 (một) quần Jean dài màu xanh;
- - 01 (một) mũ bảo hiểm màu sơn đỏ.
Kết luận định giá tài sản số 749/KL-ĐG ngày 07/11/2023, số 29/KL-ĐG ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C, xác định:
- - Đồng hồ nước màu xanh, giá trị còn lại 320.000 đồng/cái x 11 cái (Lê Văn N lấy trộm ngày 05/11/2023), trị giá 3.520.000 đồng.
- - Đồng hồ nước màu xanh, giá trị còn lại 320.000 đồng/cái x 12 cái (Lê Văn N lấy trộm từ ngày 25/10/2023 đến ngày 01/11/2023, xác định được bị hại), trị giá 3.840.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản 7.360.000 (bảy triệu ba trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C ban hành Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn N về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Cáo trạng số 18/CT-VKSCĐ-HS ngày 02 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự 2015).
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Bị hại Nguyễn Quang V2 có lời khai như trong giai đoạn điều tra, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Các bị hại khác; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu (bút lục 116 - 188, 191-193).
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Văn N. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 34 (ba mươi bốn) đồng hồ nước (đã qua sử dụng, còn lại phần vỏ bằng kim loại), màu xanh và trắng; tiền Việt Nam 400.000 đồng;
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo sơ mi tay ngắn, sọc caro màu đỏ - xanh - trắng; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu sơn đỏ.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Newsday MODEL, vỏ máy màu đen, số Imel 1: 862655040994855, Imel 2: 862655040994863, gắn sim số Viettel số 0372.332.xxx.
Về trách nhiệm dân sự: các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Quang V2 có mặt; các bị hại khác vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Văn N khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ thực hiện và hậu quả do hành vi gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ để xác định:
Bị cáo Lê Văn N đã có hành vi lén lút, lấy trộm 34 (ba mươi bốn) đồng hồ nước của các hộ dân trên địa bàn thành phố C, tổng giá trị được xác định 7.360.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 749/KL-ĐG ngày 07/11/2023, số 29/KL-ĐG ngày 12/01/2024).
Bị cáo có hành vi cố ý nhầm vào các tài sản không người trông giữ, lợi dụng điều kiện đêm tối để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là xâm phạm quyền sở hữu nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, trật tự quản lý Nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có, ảnh hưởng đến việc sử dụng nước sinh hoạt hằng ngày của hàng loạt hộ dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 1997, đến năm 1998 chấp hành xong, được xoá án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không tiền sự, tiền án; học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đối với 34 (ba mươi bốn) đồng hồ nước (đã qua sử dụng, còn lại phần vỏ bằng kim loại), màu xanh và trắng, là tài sản do bị cáo phạm tội mà có; tiền Việt Nam 400.000 đồng, là tiền do bị cáo thu được từ việc phạm tội, xét tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 áo sơ mi tay ngắn, sọc caro màu đỏ - xanh - trắng; 01 quần Jean dài màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu sơn đỏ; không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Newsday MODEL, vỏ máy màu đen, số Imel 1: 862655040994855, Imel 2: 862655040994863, gắn sim số Viettel số 0372.332.xxx, là tài sản cá nhân không sử dụng vào việc phạm tội, xét trả lại cho bị cáo theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xử lý.
[7] Các vấn đề khác:
Trường hợp bị cáo Lê Văn N khai còn lấy trộm 22 đồng hồ nước trên địa bàn thành phố C và 13 đồng hồ nước trên địa bàn huyện A nhưng không rõ bị hại, ngoài lời khai của bị can, không còn chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra không quy kết xử lý là phù hợp.
Đối với Đỗ Thành N2 khi mua phần vỏ bằng đồng của Lê Văn N đem bán, không biết do trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Cao Văn X có hành vi nhận bán dùm Lê Văn N 13 vỏ bằng đồng, X không có ở địa phương, chưa mời làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Lê Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam, ngày 06/11/2023 (ngày sáu, tháng mười một, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, sung quỹ:
- - 34 (ba mươi bốn) đồng hồ nước (đã qua sử dụng, còn lại phần vỏ bằng kim loại) màu xanh và trắng;
- - Tiền Việt Nam 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng (VNC số 67/Năm NS 2024 ngày 24/4/2024).
Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (một) áo sơ mi tay ngắn (đã qua sử dụng), sọc ca rô màu đỏ - xanh - trắng;
- - 01(một) quần Jean dài (đã qua sử dụng), màu xanh;
- - 01 (một) mũ bảo hiểm (đã qua sử dụng), màu đỏ.
Giao trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động (đã qua sử dụng), nhãn hiệu Newsday MODEL, vỏ máy màu đen, số Imel 1: 862655040994855, Imel 2: 862655040994863, gắn sim số Viettel số 0372.332.xxx (8984-04800-00687-00750).
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lê Văn N, bị hại Nguyễn Quang V2 có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các bị hại khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Lâm Ngọc Phượng |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Lê Văn Nh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
