|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HS-ST
Ngày: 23 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Sáu
Ông Vũ Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh H; tên gọi khác: T; sinh năm 1991; tại Bạc Liêu; Nơi ĐKTT: Không; chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã T, huyện B, Tp .; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; con ông Nguyễn Thanh L và bà Võ Thị Thu H1; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự:
- + Ngày 26/01/2016 Tòa án nhân dân quận 6, TP . Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Ngày 31/01/2018 Tòa án nhân dân quận 6, TP . Hồ Chí Minh ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Ngày 14/9/2020 Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP . Hồ Chí Minh ra quyết định số 759/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng. Đến ngày 16/3/2022 chấp hành xong.
- Nhân thân: Ngày 15/9/2011 Tòa án nhân dân quận 6, TP . Hồ Chí Minh tuyên phạt 06 tù về tội “Cướp tài sản”, thi hành án tại Trại P - Bộ C. Đến tháng 9 năm 2017 chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/11/2023 đến ngày 06/12/2023 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. (có mặt)
- Bị hại: Trần Thế P, sinh năm 1966. Vắng mặt;
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1994. Vắng mặt;
- Địa chỉ; Ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- + Lý Minh N, sinh năm 1992. Vắng mặt;
- Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai
- Người làm chứng: Lê Văn V, sinh năm 1973. Vắng mặt;
Địa chỉ: Số H P, khu phố G, thị trấn B, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 26/11/2023, Nguyễn Thanh H từ phòng trọ tại ấp C, xã T, huyện B, TP . Hồ Chí Minh đi bộ ra đầu hẻm gặp anh Dịp Thanh P1, sinh năm 1976, ĐKTT: tổ B, ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang hỏi mượn xe môtô loại Dream biển số 62M3-9996 để đi công việc, anh P1 đồng ý. Sau đó, H chạy xe về phòng trọ lấy 01 kìm cắt, 01 cái áo mưa màu xanh rồi quấn kìm cắt vào áo mưa bỏ lên ba ga tự chế sau yên xe với ý định đi xuống xóm C thuộc thị trấn B, huyện B để trộm cắp tài sản. Trên đường đi, H ghé vào bãi đất trống cặp quốc lộ A để sử dụng ma túy thì lượm được một cây mã tấu bằng kim loại màu trắng bị bẻ cong nên H dùng tay bẻ thẳng cây mã tấu và dùng áo mưa quấn lại để lên ba ga sau yên xe.
Khi đến khu vực xóm C, H điều khiển xe môtô chạy đến cổng khu công nghiệp P, tới vòng xoay lớn trong khu công nghiệp thì rẽ phải vào khoảng 50m thì nhìn thấy có tủ điện bên phải nên H đậu xe lại. H nhìn xung quanh không thấy ai nên lấy kìm cắt màu đỏ đi bộ qua đám cỏ đến tủ điện cách chỗ đậu xe khoảng 5-7m định cắt sợi dây điện tiếp đất thì anh Lê Văn V, sinh năm 1976, ĐKTT: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An, là nhân viên bảo vệ trong khu công nghiệp P phát hiện nên H bỏ đi ra ngoài lên xe định mở chìa khóa xe bỏ chạy thì bị anh V chụp tay H giữ lại nên xảy ra giằng co. Anh V truy hô thì anh Trần Thế P, sinh năm 1966, ĐKTT: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An, cùng là nhân viên bảo vệ trong khu công nghiệp P nghe thấy chạy đến hỗ trợ và dùng tay đánh H nên H xuống xe lấy cái áo mưa để sau ba ga có giấu sẵn cây mã tấu rồi cầm cây mã tấu la lớn “tao chém chết tụi bây” và đuổi chém anh P với anh V nhưng không trúng ai. H rượt đuổi chém anh P khoảng 10m thì anh P té ngã xuống đường nên H quay lại, nhìn thấy xe môtô loại Wave màu đỏ biển số 62N1-596.24 của anh P có gắng sẵn chìa khóa trên xe nên H lấy xe này cầm theo cây mã tấu tẩu thoát. (cơ quan CSĐT đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được).
H chạy xe ra cổng khu công nghiệp P rẽ trái chạy một đoạn thì ném bỏ cây mã tấu cặp đường nhựa. H chạy về xóm C gặp Lý Minh N1, sinh năm 1992, ĐKTT: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên rủ N1 đi tìm chỗ cầm xe, N1 kêu một người thanh niên tên Đ (chưa rõ lai lịch) dẫn đến nhà của Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1994, ĐKTT: ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An nhờ H2 cầm xe môtô Wave màu đỏ biển số 62N1-596.24 được 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), bị trừ 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền lời, N1 đưa cho H 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng), H cho Đ 100.000đ (Một trăm ngàn đồng). Số tiền cầm xe môtô H mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 11 giờ ngày 27/11/2023 cơ quan CSĐT Công an B phối hợp Công an xã T, huyện B, TP . Hồ Chí Minh mời H làm việc và H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra, CQĐT tạm giữ:
- + 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển số 62N1-596.24, số khung: 3911KY045225, số máy: JA39E0901271, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Thế P.
- + 01 (một) xe môtô loại Dream, biển số 62M3-9996 không có số khung, số máy;
- + 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh, hai bên vai áo có họa tiết hình hai người ngồi quay lưng màu xanh nền trắng, ngực áo có chữ City Lan màu trắng;
- + 01 (một) áo mưa màu xanh dương;
- + 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh dương;
- + 01 (một) đôi dép màu xanh, kích thước (0,28 x 0,10)m, 01 quai trên quai dép in chữ FiLa;
- + 01 (một) đoạn tre khô 04 đốt, dài 1m05, tròn đường kính 0,4m.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 102/KL-HĐĐG ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B kết luận giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSBL ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh H hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cướp tài sản”; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh H.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sụ:
- + 01 (một) xe môtô loại Dream, biển số 62M3-9996 không có số khung, số máy Nguyễn Thanh H mượn của anh Dịp Thanh P1, anh P1 mua xe không có giấy tờ làm phương tiện đi lại nên đề nghị giao cho CQĐT tiếp tục tạm giữ, xác minh, xử lý sau.
- + 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh, hai bên vai áo có họa tiết hình hai người ngồi quay lưng màu xanh nền trắng, ngực áo có chữ City Lan màu trắng; 01 (một) áo mưa màu xanh dương; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh dương; 01 (một) đôi dép màu xanh, kích thước (0,28 x 0,10)m, 01 quai trên quai dép in chữ FiLa là tài sản của bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn tre khô 04 đốt, dài 1m05, tròn đường kính 0,4m.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thế P đã nhận lại tài sản là xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển số 62N1-596.24 không yêu cầu bồi thường thiệt hại, ngoài ra Nguyễn Thanh H2 nhận cầm xe không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh H chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đế vụ án, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xác minh tại phiên tòa, trên cơ sở có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 26/11/2023, bị cáo Nguyễn Thanh H đang định trộm tài sản tại khu công nghiệp P thuộc ấp C, xã A, huyện B thì anh Lê Văn V phát hiện. Anh Trần Thế P nhìn thấy liền đến hỗ trợ thì bị bị cáo H lấy mã tấu mang theo đuổi đánh anh V và anh P. Anh V và anh P bỏ chạy thì bị cáo H lấy xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển số 62N1-596.24 có giá trị 7.500.000đ của anh P chạy về xóm C nhờ bạn cầm được 1.800.000đ tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H với tình tiết định khung “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện, khi bị cáo có ý định trộm cắp tài sản thì anh V và anh P phát hiện thì bị cáo dùng mã tấu đuổi đánh anh V và anh P. Anh V và anh P bỏ chạy thì bị cáo lấy xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển số 62N1-596.24 có giá trị 7.500.000đ của anh P đem đi cầm được 1.800.000đ tiêu xài cá nhân. Bị cáo H đã từng bị kết án về tội “Cướp tài sản” đáng lẽ sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo tu chí làm ăn, làm lại cuộc đời có ích cho xã hội nhưng bị cáo lại không biết ăn năn hối cải lại tiếp tục phạm tội hành vi tương tự. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thanh H trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin bải nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Đối với Lý Minh N1 và Nguyễn Thanh H2, không biết xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave màu đỏ, biển số 62N1-596.24 do Nguyễn Thanh H phạm tội mà có, nên CQĐT không xem xét xử lý trách nhiệm.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh H còn có thể bị phạt tiền, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có lời trình bày hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) xe môtô loại Dream, biển số 62M3-9996 không có số khung, số máy Nguyễn Thanh H mượn của anh Dịp Thanh P1, anh P1 mua xe không có giấy tờ làm phương tiện đi lại nên giao cho CQĐT tiếp tục tạm giữ, xác minh, xử lý sau.
... (Content from page 7, point [8] and [9] is integrated into the final QUYẾT ĐỊNH section for flow)
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H (T) phạm tội “Cướp tài sản”
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2023.
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh H 45 ngày kể từ ngày tuyên án (23/4/2024) để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Giao cho CQĐT Công an huyện B tiếp tục tạm giữ, xác minh, xử lý 01 (một) xe môtô loại Dream, biển số 62M3-9996 không có số khung, số máy
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh, hai bên vai áo có họa tiết hình hai người ngồi quay lưng màu xanh nền trắng, ngực áo có chữ City Lan màu trắng; 01 (một) áo mưa màu xanh dương; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh dương; 01 (một) đôi dép màu xanh, kích thước (0,28 x 0,10)m, 01 quai trên quai dép in chữ FiLa
- - 01 (một) đoạn tre khô 04 đốt, dài 1m05, tròn đường kính 0,4m
Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Thanh H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm - cướp tài sản
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H (T) phạm tội “Cướp tài sản”
