|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:43/2024/ HS-ST Ngày: 21/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Xuân Ninh.
Ông Hoàng Quốc Trị.
- Thư ký phiên toà: bà Bùi Hồng Mơ- Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Thu Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2024/TLST – HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/TLST – HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến D (Tên gọi khác: không), sinh năm: 1974; Nơi sinh: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn C, L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: làm ruộng ; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị L (đều đã chết); Vợ Trần Thị Thanh T1, có 01 con; Tiền án: không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0402613 ngày 12/4/2023 của Công an xã G, huyện G, phạt Nguyễn Tiến D 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Tiến D chưa chấp hành Quyết định.
Lịch sử bản thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 75 ngày 05/8/2005 của Công an huyện T, tỉnh Hà Nam, phạt Nguyễn Tiến D 500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”. Nguyễn Tiến D chấp hành xong Quyết định ngày 11/8/2005.
- Tại Quyết định số 783 ngày 13/8/2009 của UBND huyện G, quyết định đưa Nguyễn Tiến D đi cai nghiện bắt buộc. Nguyễn Tiến D chấp hành xong Quyết định ngày 24/8/2011.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 515 ngày 02/10/2018 của Công an huyện G, phạt Nguyễn Tiến D 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 25/3/2024, chuyển tạm giam từ ngày 02/4/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh tỉnh N. (có mặt)
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1977; nơi cư trú: thôn C L, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.(có mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Trần Hoàng A. (vắng mặt)
+ Người chứng kiến: anh Dư Mạnh T2. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 25/3/2024, khi Nguyễn Tiến D điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu phao thuộc thôn C Kênh G, xã G, huyện G thì gặp Tổ công tác Công an huyện G phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi cất giấu trái phép chất ma túy của mình, D tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 02 gói ma túy vừa mua được và khai nhận đó là H, D mua về để sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 02 gói ma túy có đặc điểm nêu trên. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1 – 545.26. Sau đó, Tổ công tác đưa Nguyễn Tiến D cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Tiến D sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2009 đến nay. Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 25/3/2024, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B1 – 545.26 đến khu vực đê giáp ranh giữa xã G, huyện G và xã Đ, huyện N để tìm mua ma túy về sử dụng; tại đây Dụ gặp hỏi và mua của một người đàn ông không quen biết đang đứng ven đường với số tiền 500.000 đồng; Người này cầm tiền rồi đưa cho D 02 gói nhỏ đều gói ngoài bằng giấy bạc mầu trắng, bên chứa chất bột dạng cục màu trắng. Xác định là H, D cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng thì bị cơ quan công an phát hiện như trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 02 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến D có khối lượng lần lượt là 0,133 gam và 0,120 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M1 và M2, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 342/KL-KTHS-MT ngày 02/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1308 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1195 gam. Tổng khối lượng mẫu ký hiện M1, M2 là 0,2503 gam, là ma túy, loại Heroine (H).
Heroine (H1) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H2 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,0971 gam, mẫu ký hiệu M2 còn lại có khối lượng 0,0828 gam, đều là ma túy, loại Heroine (H); toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 342/KL-KTHS-MT, cùng thông tin về vụ việc và vật chứng.
3
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 41/CT-VKS-GV ngày 08/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Nguyễn Tiến D ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 25/3/2024.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 342/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0971 gam, M2 có khối lượng 0,0828 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 02 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp Kết luận giám định số 342/KL-KTHS-MT ngày 02/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Tiến D không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép cất giữ, quản lý, mua bán, vận chuyển hoặc sử dụng chất ma túy. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 25/3/2024, tại khu vực cầu phao thuộc thôn C Kênh G, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Tiến D có hành vi tàng trữ trái phép 0,2503 gam Heroine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.
4
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm :
...c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Bị cáo Nguyễn Tiến D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi cất giấu trái phép Heroine của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túy cất giấu để thỏa mãn nhu cầu bản thân. Chính vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến D thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có. Về nhân thân: Bị cáo nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
5
[5]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì ghi số 342/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0971 gam, M2 có khối lượng 0,0828 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 02 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, sử dụng và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết nên không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1-54526 thu giữ của Nguyễn Tiến D, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị Thanh T1 (là vợ của D). Ngày 25/3/2024, D sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy, chị T1 hoàn toàn không biết, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã trả lại chiếc xe trên cho chị T1 do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quan điểm xử lý của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự ;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/3/2024.
6
2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 342/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0971 gam, M2 có khối lượng 0,0828 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 02 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 11/7/2024).
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 21/8/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hoàng Giáp |
7
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến D - TTMT
