|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày 21/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Thị Đức.
2. Ông Vũ Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trịnh Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
A M (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 16/10/2002 tại tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Rơ ngao; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: A M1; Sinh năm: 1978 (đã chết) và bà : Y K; Sinh năm: 1976.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo A M đang bị áp dụng biện pháp ngăn Chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/10/2023 đến nay.
- Bị hại:
+ Anh A D, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh A Đ, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh A T, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
+ Anh A Văn T1, sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
Người giám hộ của A Văn T1: Ông A H; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
+ Anh A Duy K1, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
+ Chị Y C, sinh năm 2009; địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
Người giám hộ của Y C: Ông A G; Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
+ Chị Y D1, sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
Người giám hộ của Y D1: Ông A D2; Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
+ Anh Phan Thúc Đ1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
(Những người làm chứng đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 09/6/2023, Nguyễn Chí C1 (Sinh năm: 2004) tổ chức uống rượu tại nhà C1 thuộc thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum cùng với ông Nguyễn Thế C2 (Sinh năm: 1978, bố của C1) và một số người gồm A M (Sinh năm: 2002), A Đ (Sinh năm: 2001), A B (cùng trú tại: thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) và A D3, A H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, C1 cùng A H1 điều khiển xe mô tô đi đổ xăng, khi về C1 thấy nhóm thanh niên gồm: A T (Sinh năm: 2005), A D (Sinh năm: 2005; cùng trú tại: thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum), A Văn T1 (Sinh năm: 2007), A Duy K1 (tên gọi khác: A K2; Sinh năm: 2005; cùng trú tại: thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum), Y C (Sinh năm: 2009) và Y D1 (Sinh năm: 2007; cùng trú tại: thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) đang ngồi uống nước tại quán T2 thuộc thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Do trước đây C1 bị A T đánh nên C1 nảy sinh ý định đánh T, khi về đến nhà C1 đi vào nhà và nói: “Ra giúp em đánh mấy đứa B1 Băn bữa trước đánh em”. Sau đó, C1 đi ra sân lấy 03 (ba) đoạn ống sắt tròn được cắt sẵn dài 60cm, đường kính 03 cm trên thùng xe ô tô đang đỗ ở sân. A D3 nói “Đưa em một cây”, A M cũng nói “Đưa anh một cây” nên C1 đưa cho A D3 và A M mỗi người cầm một cây, C1 cầm một cây còn lại. C1 và A D3 lên xe mô tô do A H1 điều khiển; A M thấy A Đ đang lấy xe mô tô trước cổng thì nói “Cậu chở cháu đi một đoạn” nên A Đ chở A M đi. A B đi về nhà không tham gia. Khi đến quán T2, A H1 dừng xe, C1 và A D3 xuống xe đi vào quán, C1 đi trước, A D3 đi theo sau cầm theo đoạn sắt đi vào trong quán, A M cầm đoạn cây sắt đứng chờ trước cổng ra vào của quán tạp hóa. C1 tiến đến bàn nơi A T và nhóm bạn đang ngồi, C1 cầm đoạn cây chỉ vào mặt A T và nói “Thằng này nè, thằng này đánh tao nè”, nói xong C1 vụt cây về phía A T một cái thì cả bàn đứng dậy bỏ chạy. Lúc này, A D chạy tới lối ra vào quán thì bị A M đứng ở cổng cầm cây sắt đánh một cái từ trái qua phải trúng vào thái dương phải của A D khiến A D ngã xuống đất, sau đó C1 và A M cầm cây sắt đánh vào người A D. Thấy vậy, anh Phan Thúc Đ1 (Sinh năm: 1983; Trú tại: Thôn K, xã N) đang uống nước trong quán ôm Công lại thì A M chỉ vào mặt anh Đ1 nói “Mày hả”, C1 nói “Không phải việc của chú”. Anh Đ1 bỏ C1 ra thì cả hai tiếp tục đánh A D thêm hai cái rồi bỏ đi. A D được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh K để điều trị thương tích.
Sau khi rời khỏi quán T2, A H1 điều khiển xe mô tô chở C1 và A D3, A Đ chở A M. Khi đi đến đoạn thuộc thôn K, xã N xuống xe đi cùng với C1 còn A Đ điều khiển xe mô tô về nhà. Sau đó, C1, A D3, A H1 và A M cùng nhau đi thành phố K, trên đường đi tới đoạn đường tránh thành phố K, A M làm rơi đoạn cây sắt xuống đường. Khi đi tới cầu Đ, thành phố K, C1 ném hai cây sắt trên xuống cầu rồi về nhà A D3 ngủ, A M đi về nhà.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 119/KLTTCT-TTPY ngày 27/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể của A D kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của A D tại thời điểm giám định là 12,61% làm tròn 13% (Mười ba phần trăm); Vật gây thương tích: Vật tày.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSĐH ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo A M“Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với A M và Nguyễn Chí C1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Về dân sự: A D đã làm đơn yêu cầu A M bồi thường thiệt hại số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Hiện A M đã bồi thường cho A D số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo A M về tội danh như cáo trạng truy tố.
Đề nghị HĐXX căn cứ điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo A M từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo A M đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho bị hại A D. Trước đó, bị cáo A M đã bồi thường cho bị hại A D số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Về án phí: Bị cáo A M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình là đúng với nội dung truy tố của bản Cáo trạng, bị cáo không có khiếu nại gì đối với kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ. Không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo hối hận về hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo A M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 09/6/2023, tại thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, Nguyễn Chí C1 và A M đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm ống sắt tiết diện tròn dài 60cm, đường kính 03cm đánh gây thương tích cho A D với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% (Mười ba phần trăm). Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo A M phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi nêu trên của bị cáo A M là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo A M có nhân thân tôt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo A M không phảichịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo A M đã bồi thường thiệt hại cho bị hại A D số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần cho bị cáo được hưởng.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu bồi thường thiệt hại của A D là có căn cứ. Tại phiên tòa hôm nay, A M đồng ý tiếp tục bồi thường thiệt hại cho A D số tiền là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng), xét thấy phù hợp với các quy định của pháp luật nên được công nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: 03 (Ba) đoạn ống sắt tiết diện tròn dài 60cm, đường kính 03cm. Theo lời trình bày của Nguyễn Chí C1 và A M thì sau thực hiện hành vi phạm tội, A M đã làm rơi 01 (Một) ống sắt trên đường đi từ xã N đến thành phố K, 02 (Hai) đoạn ống sắt còn lại Nguyễn Chí C1 đã ném xuống cầu Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thu được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về tình tiết khác: Đối với Nguyễn Chí C1, C1 thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Vì vậy, ngày 12/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định đình chỉ vụ án hình sự đối với bị cáo và quyết định đình chỉ điều tra bị cáo đối với C1. Sau khi xảy ra sự việc, Nguyễn Chí C1 cùng gia đình đã đến thăm hỏi động viên và đã đền bù 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Qua đó A D đã làm đơn bãi nại đối với Nguyễn Chí C1 và không yêu cầu đền bù gì thêm.
Đối với người có tên là A D3, A H1: Quá trình điều tra, trên cơ sở lời khai của Nguyễn Chí C1, Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động xác minh nhưng chưa xác định được thông tin về nhân thân, lai lịch của hai đối tượng trên. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo A M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo A M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1.Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo A M 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
2. Về tranh chấp dân sự:
Buộc bị cáo A M phải bồi thường thiệt hại cho A D số tiền là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) kể từ ngày người yêu cầu có đơn yêu cầu thi hành án, mà bị cáo không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo A M còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 3 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo A M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án này gửi lên Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa PHẠM THỊ NGA |
| CÁC THÀNH VIÊN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | |
| Các hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Vũ Minh Tuấn Đoàn Thị Đ2 |
|
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A Mến - Cố ý gây thương tích
