|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày: 21/6/2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thắm.
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Lan và bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Khoa Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên toà: bà Ngô Thị Thu Hà và bà Nguyễn Thị Tố Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 04/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 28/5/2024, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn C, sinh năm 1993 tại huyện G, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và con bà Phạm Thị L; có vợ là Vũ Thị Thu T (đã ly hôn), bị cáo chưa có con. Nhân thân, tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).
-
Vũ Đức T1, sinh năm 1990 tại huyện G, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Vũ Đức T2 (là thương binh hạng 1/8, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhì, hạng ba) và con bà Vũ Thị N (được Bộ trưởng bộ G tặng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục). Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T3, có 02 con ( con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020). Nhân thân, tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).
-
Vũ Văn N1, sinh năm 1993 tại huyện G, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Vũ Văn N2 và con bà Nguyễn Thị T4. Bị cáo chưa có vợ con. Nhân thân, tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn T5, sinh năm 1980 tại huyện G, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 8/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T6 và con bà Phạm Thị M. Bị cáo có vợ là Đinh Thị V (đã ly hôn) và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: chưa.
Nhân thân: Ngày 26/08/2013, Công an huyện G, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc theo Quyết định số 104/QĐ-XPHC; phạt tiền 1.500.000đ; đã nộp ngày 27/08/2013.
Ngày 02/11/2021, UBND huyện G, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 3241/QĐ-XPHC; phạt tiền 2.250.000đ; đã nộp ngày 04/11/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 ; ngày 21/12/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt tại phiên tòa).
-
Phạm Đăng D, sinh năm 1996 tại huyện G, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 8/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Phạm Đăng D1 và con bà Trần Thị C1. Bị cáo chưa có vợ con. Nhân thân, tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: chị Ngô Thị S, sinh năm 1977; chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1991; anh Phạm Đăng K, sinh năm 2003; chị Lê Thị H2, sinh năm 2004; chị Trần Thị Yến V1, sinh 19/11/2006; chị Bùi Thúy N3, sinh ngày 19/8/2007; chị Lò Thị Đ, sinh năm 2004; chị Quách Thị M1, sinh năm 2000; chị Hồ Thị Ngọc D2, sinh năm 2000; anh Cao Xuân C2, sinh năm 1996; anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1996; anh Trương Thanh T7, sinh năm 1997; anh Hoàng Lý T8, sinh năm 1986; anh Phạm Hưng L1, sinh năm 1978.
Người giám hộ cho chị V1: ông Đỗ Đức T9, sinh năm 1988 - Bí thư Đoàn thanh niên thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Người giám hộ cho chị N3: bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1985, địa chỉ: T, V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
2
(Những người làm chứng và người giám hộ đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cuối tháng 10/2023, Nguyễn Văn T5 nhờ T3 đứng tên ký hợp đồng thuê lại quán karaoke Thưởng S1 của chị S1 tại thôn A, xã Đ, huyện G để kinh doanh (T3 không biết và không liên quan đến hoạt động kinh doanh của T5). T5 bảo Phạm Đăng D đưa nhân viên nữ về quán karaoke Thưởng S1 làm cùng T5. D có trách nhiệm quản lý nhân viên và tham gia quản lý hoạt động kinh doanh cùng với T5, cụ thể: Trông coi, quản lý, bố trí phòng, tính giờ thuê phòng, giờ làm của nhân viên nữ, thu tiền khi khách đến sử dụng dịch vụ, chấm công, thu, chi phát sinh từ hoạt động kinh doanh, chi trả tiền công cho nhân viên... T5 trao đổi với D về quá trình kinh doanh, quán nhận cả khách đến thuê phòng hát karaoke và khách thuê phòng để sử dụng ma túy. Đối với khách thuê phòng hát karaoke thì sẽ giao cho D được toàn quyền quyết định việc nhận và bố trí, sắp xếp phòng cho khách; đối với khách thuê phòng để sử dụng ma túy thì phải do T5 quyết định, nếu khách liên hệ với D thì D phải thông báo lại với T5, T5 đồng ý thì D mới được nhận khách.
Ngày 26/10/2023, D đến quán K3 làm việc và thường xuyên ăn ở, sinh hoạt tại quán cùng bạn gái là Nguyễn Thị Hồng H1. Huế phụ giúp D quản lý số nhân viên nữ, điều hành, phân công nhân viên nữ đi làm khi quán có khách hoặc chở nhân viên nữ đi phục vụ tại các quán karaoke khác khi có yêu cầu. Ngoài ra, tại quán K3 còn có Phạm Đăng K (em trai D) chơi nhạc và một số nhân viên nữ D thuê làm cho quán gồm: Lê Thị H2; Trần Thị Yến V1 (tên gọi khác Phương A1), sinh ngày 19/11/2006; Bùi Thúy N3, sinh ngày 19/8/2007; Lò Thị Đ. Đối với nhân viên nữ khi có khách yêu cầu vào phục vụ phòng hát karaoke thì D sẽ thu của khách 200.000 đồng/giờ/người và trả cho nhân viên 120.000 đồng/giờ; nếu phục vụ phòng khách có sử dụng ma túy thì D thu của khách là 250.000 đồng/giờ/người và trả cho nhân viên 150.000 đồng/giờ.
Khoảng 20 giờ ngày 13/11/2023, Vũ Đức T1, Nguyễn Văn C, Vũ Văn N1, Cao Xuân C2 và Nguyễn Văn K1 cùng ăn cơm, uống rượu tại nhà K1, cả nhóm rủ nhau đi hát karaoke tại quán S3 ở thôn A, xã Đ. Sau đó, C và T1 đi ra cổng nhà K1 để rủ nhau sử dụng ma túy. C sử dụng điện thoại di động lắp sim số 0967.011.125 gọi đến số 0848.166.666 của Trương Thanh T7, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện G, C và T1 lần lượt nói chuyện với T7 để hỏi mua ma túy tổng hợp dạng ke thì T7 bảo để T7 hỏi, nếu có T7 sẽ báo lại. T1 lái xe ô tô chở C, K1 đến quán S3 trước, còn N1, C2 vẫn ở nhà K1 chưa đi ngay. Do trước đó đã biết N1 có ma túy dạng ke (tối ngày 04/11/2023 N1 đã chụp hình ảnh gói ma túy Ketamin gửi qua ứng dụng M2 cho C), nên khi đến quán S3 thì T1, C bàn nhau bảo N1 mang ma túy đến để cùng nhau sử dụng. T1 thuê phòng hát và gọi thuê 05 nhân viên nữ vào phục vụ, còn C dùng số điện thoại 0967.011.xxx liên lạc đến số điện thoại 0834.199.xxx bảo N1 mang ma túy đến. Sau khi nhận được điện thoại của C, N1 đi xe máy nhãn hiệu Honda SH, biển số 90B2-804.14 chở
3
C2 đi từ nhà K1 về nhà N1. Nhất vào nhà lấy ma túy, Công đợi ở ngoài sân (gói ma túy Nhất khai nhặt được từ đầu tháng 11/2023 tại một quán karaoke ở thành phố Hà Nội) để trong tủ giấu vào trong người xong quay ra tiếp tục đi xe máy chở C2 đến quán S3. Khi gặp C tại quán S3, N1 đã đưa túi nilon chứa ma túy Ketamine cho C để sau đó cho mọi người cùng sử dụng.
Tại quán S3, T1, C, N1, C2, K1 vào hát karaoke tại phòng Vip 1 cùng với 05 nhân viên nữ gồm 02 nhân viên của quán S3 là M1, D2 và 03 nhân viên do quán S3 thuê của quán K3 là Đ, H2, N3. Trong khi hát ở quán S3, do biết quán không cho sử dụng ma túy nên T1 bảo C vào nhà vệ sinh sử dụng trước một ít ma túy, không để người khác biết. C đồng ý và lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn theo chiều dọc và dùng 02 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá Thăng L2 bọc bên ngoài để cố định thành một chiếc ống hút dùng để hít ma túy Ketamine. Sau đó, C, T1 cùng nhau vào phòng vệ sinh quán S2, C lấy túi ma túy Ketamine của N1 đưa, mở miệng túi đổ một ít ra tờ tiền 50.000 đồng của T1 và đưa cho T1 ống hút. T1 cầm ống hút hít hết số ma túy trên tờ tiền rồi cất tờ tiền 50.000 đồng vào trong người và trả C ống hút. T1, C quay lại phòng hát một lúc rồi tiếp tục rủ nhau mua thêm 02 chỉ ma túy Ketamine mang đi chỗ khác sử dụng. C, T1 đi ra cổng quán S2 sử dụng điện thoại của C gọi cho số điện thoại 0848.166.xxx của T7, C, T1 lần lượt nói chuyện hỏi mua 02 chỉ ma túy Ketamine, T7 đồng ý và dặn khi có số điện thoại lạ gọi đến thì nghe máy. Sau đó, C, T1 vào phòng hát bảo mọi người đi sang quán K3 chơi tiếp, T1 nói với D2 và Đ sang quán K3 để bay (tức là sử dụng ma túy). Thấy mọi người đồng ý, C đi bộ đến quán K3 thì gặp T5. C có nói chuyện với T5 về việc thuê phòng rồi mượn xe máy đi đón K1. C đi xe máy chở K1, N1 đi xe máy chở C2, T1 đi ô tô chở H2, N3, Đ, M1, D2 cùng đi đến quán K3. T1 hỏi thuê T5 01 phòng để sử dụng ma túy và được T5 đồng ý và dẫn nhóm T1, C cùng các nhân viên nữ lên phòng Vip 5 trên tầng 2 của quán, T5 vào phòng bật điện và hệ thống âm thanh trong phòng rồi đi xuống. T5 gặp K và bảo lên phòng chơi nhạc cho khách thì K cầm laptop lên phòng Vip 5 để chơi nhạc. N3 thấy trong phòng chưa có đá lạnh để uống bia nên đã đi xuống tầng 1 lấy đá mang lên, khi gặp T5 ở cầu thang thì T5 đưa cho N3 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, có hoa văn màu xanh cùng bật lửa để N3 mang để trên mặt bàn ở vị trí giữa phòng V2 (mục đích T5 đưa đĩa và bật lửa để cho khách sử dụng ma túy nhưng không nói cho N3 biết). Sau đó, T5 bảo D đi ra đóng cổng quán lại. Một lúc sau, T5 mở cổng đi xe máy ra khỏi quán và bảo H1 đóng cổng. Sau khi T5 đi, D ở quầy xem camera đề phòng lực lượng chức năng cho nhóm khách cùng nhân viên trong phòng Vip 5 sử dụng trái phép chất ma túy.
Vào phòng được một lúc, C thấy có cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại 0357.043.xxx, nghĩ là của người giao ma túy gọi nên C đi xuống cổng quán thì thấy người ngồi trên ghế phụ xe ô tô màu trắng đỗ cạnh quán gọi và hỏi C là “có phải chỗ T7 không”. Nghĩ đây là người giao ma túy cho T7 nên C trả lời “đúng rồi” thì được người này đưa cho 01 phong bì bên trong có 02 túi nilon chứa ma túy dạng Ketamine. Số tiền mua ma túy T1, C chưa trả cho T7 nhưng thỏa thuận
4
sẽ cùng góp tiền trả T7 sau. C cho phong bì vào trong túi quần đang mặc rồi đi vào trong quán. Sau khi quay lại phòng V, C lấy túi nilon chứa ma túy dạng ke do N1 đưa đổ ra đĩa sứ để ở mặt bàn giữa phòng rồi lấy thẻ Căn cước công dân của C để đảo ma túy, kẻ thành các đường nhỏ đồng thời lấy ra chiếc ống hút được cuộn bằng tờ tiền 10.000đ do C tự làm trước đó ra để ở đĩa và bảo “đồ đây, ai chơi thì chơi”. Sau khi C, K1, N1, H2, Đ, N3 lần lượt sử dụng hết số ma túy trên thì C tiếp tục đổ hết ma túy Ketamine trong 02 túi nilon mua được của T7 ra đĩa sứ, dùng bật lửa hơ nóng đĩa sứ và lấy 01 thẻ cứng 01 mặt xám 01 mặt xanh trắng không biết của ai để ở đĩa để xào hết số ma túy Ketamine một lượt (đảo và tán mịn ma túy từ dạng tinh thể thành dạng bột mịn màu trắng) để ở bàn bảo mọi người trong phòng chơi. Trong quá trình cả nhóm đang sử dụng ma túy, T1 đi về trước, D2 và M1 cũng về quán karaoke S2. Trần Thị Yến V1 lên phòng V2 để phục vụ. Khi C, K1, N1, H2, Đ, N3, V1 sử dụng hết số ma túy thì đến 23 giờ 58 phút ngày 13/11/2023 lực lượng Công an đến quán kiểm tra, D đã sử dụng điện thoại gọi điện cho K bảo “tắt nhạc đi”, khi K vừa tắt nhạc thì bị bắt quả tang thu giữ các đồ vật có liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy gồm:
- - Trên nền phòng ở vị trí giữa phòng có 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 2,5x2 cm bên trong có bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M1).
- - Trên nền phòng ở vị trí gần chân bàn phía trong bàn chính giữa có 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 4x4 cm bên trong có bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M2).
- - Trên mặt bàn chính giữa có 01 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 2,5x2 cm bên trong có bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M3).
- - Trên mặt ghế sofa có 01 ống hút được cuộn tròn theo chiều dọc tờ tiền mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long bên trong có bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M4)
- - Trên mặt bàn (loại gấp) cạnh máy chọn bài hát có 01 máy tính xách tay, vỏ màu đen, nhãn hiệu DELL, đã qua sử dụng, có cắm 02 chiếc USB.
- - Dưới gầm ghế sofa có 01 chiếc đĩa sứ màu trắng họa tiết màu xanh hình bầu dục kích thước 29x18,5 cm, dưới đáy đĩa có bám khói đen, trên mặt đĩa bám dính chất bột màu trắng và 01 chiếc thẻ hình chữ nhật 01 mặt xám 01 mặt xanh trắng.
- - 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ.
Ngoài ra, quá trình điều tra vụ án đã tiến hành thu giữ, quản lý các đồ vật, tài liệu sau:
- - Thu giữ 01 đầu thu nhãn hiệu @lhua, loại DH-XVR4116HS-1, lưu trữ dữ liệu của hệ thống camera giám sát lắp đặt tại quán K3;
- - Dương tự giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max, lắp sim số: 0848.115.666; Nhất tự giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng, lắp
5
sim số: 0834.199.916; C tự giao nộp 01 thẻ căn cước công dân số: [...], mang tên Nguyễn Văn C và 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max màu vàng, lắp sim số 0967.011.125; K tự giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max, lắp sim số: 0896.916.905, là điện thoại D, N1, C sử dụng liên lạc vào việc phạm tội.
- - Chị Ngô Thị S tự giao nộp 01 bản hợp đồng cho thuê mặt bằng là quán K3 giữa chị S và Trương Đình T10; 01 giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh có chữ ký và mang tên của Trương Đình T10.
Tiến hành xét nghiệm, kiểm tra việc sử dụng chất ma túy, xác định: Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn K1, Lê Thị H2, Bùi Thúy N3, Trần Thị Phương A2 (Trần Thị Yến V1), Lò Thị Đ dương tính với chất ma túy dạng Ketamine. Vũ Đức T1, Vũ Văn N1 âm tính với chất ma túy.
Phiếu xét nghiện của Trung tâm y tế huyện G xác định: Trần Thị Phương A2 (Trần Thị Yến V1), Bùi Thúy N3, Lê Thị H2, Lò Thị Đ, Vũ Đức T1, Vũ Văn N1, Nguyễn Văn K1, Nguyễn Văn C đều không nghiện ma túy.
Ngày 12/12/2023, Nguyễn Văn T5 đã đến Công an huyện G đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận giám định số 553/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh H kết luận:
- + Chất bột màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, gửi đến giám định, là ma túy loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Chất bột màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, gửi đến giám định, là ma túy loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Chất bột màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bi ký hiệu M3, gửi đến giám định, là ma túy loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Chất bột màu trắng bám dính trong lòng ống hút được cuộn tròn theo chiều dọc tờ tiền polymer mệnh giá 10.000đ, niêm phong trong phong bị ký hiệu M4, gửi đến giám định, là ma túy loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Chất bột màu trắng bám dính trên mặt đĩa sứ, được niêm phong trong túi giấy mã số PS1. 2105208, ký hiệu M5, gửi đến giám định, là mà túy loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- + Chất bột màu trắng bám dính trên thẻ hình chữ nhật, được niêm phong trong túi giấy mã số PS1. 2105208, ký hiệu M5, gửi đến giám định, là ma túy loại Ketamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
6
Chị Ngô Thị S đã nhận lại chiếc đầu thu nhãn hiệu @lhua loại DH-XVR4116HS-I; Anh Phạm Đăng K đã nhận lại 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu DELL, có cắm 02 chiếc USB và 01 chiếc điện thoại Iphone Pro Max, lắp sim số 0896.916.905. Anh Hoàng Lý T8 đã nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, biển số 90B2-804.14; Anh Phạm Hưng L1 đã nhận lại chiếc ô tô biển số 34A-411.78. Đối với tờ tiền 50.000 đồng T1 sử dụng vào việc sử dụng ma túy tại quán S3, T1 đã chi tiêu vào sáng ngày 14/11/2023, không nhớ trả cho ai nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không thu giữ được.
Cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 02/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố Nguyễn Văn C, Vũ Đức T1, Vũ Văn N1 về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Văn T5 và Phạm Đăng D về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy", theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa;
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Văn C, Vũ Đức T1, Vũ Văn N1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" ; các bị cáo Nguyễn Văn T5 và Phạm Đăng D phạm tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 52 đối với T1 và Nhất); Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn C, Vũ Đức T1, Vũ Văn N1.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đức T1 từ 07 năm 05 tháng đến 07 năm 08 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn N1 từ 07 năm 02 tháng đến 07 năm 04 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 đối với Toàn); Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T5 và Phạm Đăng D.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 từ 07 năm 01 tháng đến 07 năm 04 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 18/12/2023;
- Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Đăng D từ 07 năm 01 tháng đến 07 năm 04 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 03 túi nilon màu trắng và 03 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được ký hiệu
7
M1,M2,M3, phong bì ký hiệu T1,T2,T3; 01 đĩa sứ màu trắng họa tiết màu xanh hình bầu dục, 01 thẻ hình chữ nhật một mặt xám một mặt xanh trắng và 01 vỏ túi niêm phong mẫu vật; 01 bật lửa ga màu đỏ; sim số 0848115666; sim số 0834199916; sim số 0967011125.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max (là điện thoại của D); 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng (là điện thoại của N1); 01 điện thoại Iphone XS Max mầu vàng (là điện thoại của C); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đồng. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C thẻ căn cước công dân của bị cáo.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo đều thừa nhận hành vi cho thuê phòng Vip 5 quán K3, chuẩn bị địa điểm, chuẩn bị dụng cụ, chuẩn bị ma túy cho nhiều người, trong đó có người dưới 18 tuổi cùng sử dụng là vi phạm pháp luật; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo là đúng, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định.
Lời nói sau cùng trong phiên tòa: các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp Biên bản vụ việc ngày 14/11/2023, vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 13/11/2023, tại quán S3 ở thôn A, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nguyễn Văn C và Vũ Đức T1 đã bàn bạc, thống nhất rủ nhau sử dụng trái phép chất ma túy nên C đã bảo Vũ Văn N1 cầm ma túy đến quán đưa cho C. T1 thuê phòng và gọi 05 nhân viên nữ là M1, D2, Đ, H2, N3 vào phục vụ. Do quán karaoke S2 không cho sử dụng ma túy nên C lấy tờ tiền 10.000đ cuộn làm ống hút để T1 vào nhà vệ sinh sử dụng trước một ít ma túy Ketamine. Sau đó C và T1 lần lượt sử dụng điện thoại của C liên hệ với T7 để hỏi mua ma túy của T7 rồi bảo cả nhóm sang quán K3 để chơi tiếp, T1 rủ D2 và Đ sang quán K3 để bay (sử dụng ma túy). T1 dùng ô tô chở M1, Đ, H2, N3, D2 sang quán K3. Tại đây T1 gặp hỏi T5 thuê 01 phòng để sử dụng ma túy, T5 Đồng ý. Ngay sau đó tại phòng Vip 5 quán K3, Nguyễn Văn C đã xào ke, kẻ ma túy, ống hút để tổ chức cho Vũ Văn N1, Nguyễn Văn K1, Lê Thị H2, Lò Thị Đ, Trần Thị Yến V1, sinh ngày 19/11/2006
8
và Bùi Thúy N3, sinh ngày 19/8/2007 (là người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi) và C cùng sử dụng ma túy Ketamine do N1 mang đến và ma túy do T1, C mua của T7; đến 23 giờ 58 phút cùng bị phát hiện, thu giữ vật chứng.
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Ketamine là dạng ma túy tổng hợp Nhà nước cấm sử dụng nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo C, T1, N1 đã chuẩn bị địa điểm và cung cấp chất ma túy cho người khác và bản thân cùng sử dụng. Xét về hành vi của 3 bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do các bị cáo tổ chức cho nhiều người sử dụng ma túy trong đó có chị V1 và chị N3 chưa đủ 18 tuổi, đây là tình tiết định khung phạm tội đối với 02 người trở lên và đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo T5, D biết rõ các bị cáo C, T1 thuê phòng để sử dụng chất ma túy. Mặc dù không cùng sử dụng ma tuý nhưng các bị cáo T5, D vẫn đồng ý và còn bố trí sắp xếp phòng, chuẩn bị dụng cụ đĩa, bật lửa ga, cho nhân viên chơi nhạc, khoá cổng và phân công nhau trông coi để cho nhóm C, T1 sử dụng trái phép chấp ma túy tại chính nơi các bị cáo quản lý; hành vi của hai bị cáo T5, D đã cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Chất ma túy có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến con người và sự an toàn của xã hội; là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[4] Đánh giá vai trò của các bị cáo:
Trong vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: các bị cáo C, T1 cùng rủ nhau sử dụng trái phép chất ma túy, cùng liên hệ hỏi mua ma túy của T7, cùng hỏi thuê phòng của T5, T1 gọi nhân viên nữ phục vụ và rủ Đ, D2 sử dụng ma túy; C trực tiếp gọi điện, nhắn tin cho N1 bảo cầm ma túy cho C, C chuẩn bị dụng cụ xào ke, dùng tờ 10.000đ quấn ông hút để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên C là người thực hành tích cực nên giữ vai trò thứ nhất; T1 đồng phạm với vai trò là người giúp sức thực hành, giữ vị trí thứ hai trong vụ án. N1 cung cấp ma túy cho C và T1 để tổ chức cho mọi người sử dụng nên giữ vai trò thứ ba.
Trong vụ án chứa chứa chấp: bị cáo T5 là chủ quán Karaoke biết rõ C, T1 thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, vẫn đồng ý và sắp xếp phòng, người chơi nhạc, chuẩn bị đĩa, bật lửa để T1, C tổ chức sử dụng ma túy nên T5 giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo D biết T5 cho C, T1 thuê phòng để tổ chức sử dụng chất ma túy nhưng vẫn tiếp nhận ý chí của T5, thực hiện việc quản lý
9
quán theo sự chỉ đạo của T5, cảnh giới bên ngoài để cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi mình quản lý nên D giữ vai trò thứ hai.
[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều không có tiền án tiền sự xác định là người có nhân thân tốt. Riêng bị cáo T5 đã từng bị xử phạt hành chính nhưng đã được xóa. Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T5 đầu thú; bị cáo T1 có bố đẻ được tặng thưởng huân chiến công hạng nhì, mẹ đẻ được Bộ trưởng bộ G tặng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục, bản thân bị cáo cũng được tặng thưởng giấy khen của địa phương nơi bị cáo cư trú; bị cáo N1 có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ được hưởng chế độ trợ cấp một lần nên các bị cáo T5, T1, N1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[7] Về xử lý vật chứng:
03 túi nilon màu trắng, 03 vỏ phong bì niêm phong, 01 đĩa sứ, 01 thẻ hình chữ nhật, 01 bật lửa ga màu đỏ, sim điện thoại là những vật không còn giá trị, HĐXX tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn C là giấy tờ tùy thân của bị cáo, HĐXX trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
03 chiếc điện Iphone của các bị cáo C, N1, T1 và 01 tờ tiền 10.000đ của bị cáo C xác định là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, HĐXX tịch thu sung ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với 01 chiếc đầu thu nhãn hiệu @lhua loại DH-XVR4116HS-I là tài sản của chị S; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu DELL, có cắm 02 chiếc USB và 01 chiếc điện thoại Iphone Pro Max, lắp sim số 0896.916.905 là tài sản của anh K; chiếc xe hiệu Honda SH, biển số 90B2-804.14 là tài sản của anh Hoàng Lý T8; chiếc ô tô biển số 34A-411.78 là tài sản của anh Phạm Hưng L1. Chị S, anh K, anh T8, anh H3 không sử dụng và không biết các bị cáo sử dụng những tài
10
sản này làm công cụ, phương tiện vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện G đã trả cho chị S, anh K, anh T8, anh H3 là phù hợp.
Đối với tờ tiền 50.000₫ T1 sử dụng vào việc sử dụng ma túy tại quán S3, T1 đã chi tiêu vào sáng ngày 14/11/2023, không nhớ trả cho ai nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không thu giữ được.
Bị cáo C và T1 khai đã liên lạc đến số 0848.166.xxx để mua 02 chỉ ma túy loại Ketamin của Trương Thanh T7 và cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại 0375.043.xxx qua tra cứu chủ thuê bao là Vũ Trọng K2 đến số điện thoại của C, để trao đổi mua ma túy và nhận ma túy. Qua xác minh T7, K2 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được. Ngoài ra C trình bày T7 còn liên lạc với C bằng số điện thoại 0899.299.xxx, qua xác minh số thuê bao 0899.299.823 hiện không có dữ liệu ngày 13/11/2023. Ngày 13/3/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã ra Quyết định số 175/QĐ-ĐCSHS tách hành vi và tài liệu có liên quan trong vụ án hình sự đối với hành vi của T7 và đồng phạm có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để tiếp tục xác minh, giải quyết theo quy định.
Đối với số ma túy do N1 mang đến, N1 trình bày nhặt được ở một quán Karaoke ở Hà Nội vào khoảng đầu tháng 11/2023, N1 không nhớ tên quán và địa chỉ nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Đối với C, T1, N1, K1, H2, N3, V1 và Đ đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 01/12/2023 Trưởng công an huyện G đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52 đến 59, các đối tượng đều đã nộp phạt.
Đối với anh Cao Xuân C2, chị Hồ Thị Ngọc D2 và chị Quách Thị M1 có mặt tại quán K3 tối ngày 13/11/2023 nhưng không sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Đối với Nguyễn Tiến T11 là chủ quán S2, Nguyễn Văn T5 là chủ quán Thưởng S1 đã có hành vi kinh doanh dịch vụ karaoke không có giấy phép theo quy định được quy định tại điểm a Khoản 7 Điều 15 Nghị định 38/2021/NĐ-CP ngày 29/03/2021 của Chính phủ và hành vi để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực, phương tiện do mình quản lý, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ; Phạm Đăng D quản lý của quán K3 có hành vi sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc bị cấm hoặc làm việc tại nơi làm việc bị cấm quy định tại Điều 147 của Bộ luật Lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP ngày 17/01/2022 của Chính phủ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã chuyển các hành vi vi phạm hành chính đến Công an huyện G. Công an huyện G đã có Công văn đề nghị Sở tư pháp tỉnh Hải Dương thẩm định, trình chủ tịch UBND tỉnh H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của các đối tượng trên.
11
Đối với Bùi Thúy N3 là người được T5 đưa đĩa và bật lửa để cầm lên phòng hát nhưng không biết mục đích đĩa và bật lửa được sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy; Phạm Đăng K là người được T5 bảo lên chơi nhạc cho phòng V2, không biết mục đích chơi nhạc cho khách sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý đối với N3 và D.
[9] Về án phí: các bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C, bị cáo Vũ Đức T1, bị cáo Vũ Văn N1 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T5 bị cáo Phạm Đăng D, phạm tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 đối với T1 và Nhất); Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo C, T1, N1.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức T1 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn N1 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 đối với Toàn); Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo T5, D.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 18/12/2023;
Xử phạt bị cáo Phạm Đăng D 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 19/11/2023.
-
Xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 03 túi nilon màu trắng và 03 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được ký hiệu M1,M2,M3, phong bì ký hiệu T1,T2,T3; 01 đĩa sứ màu trắng họa tiết màu xanh hình bầu dục; 01 thẻ hình chữ nhật một mặt xám một mặt xanh trắng; 01 vỏ túi niêm phong mẫu vật; 01 bật lửa ga màu đỏ; sim số 0848115666; sim số 0834199916; sim số 0967011125.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max; 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng; 01 điện thoại Iphone XS Max mầu vàng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đồng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C thẻ căn cước công dân của bị cáo.
(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 05/4/2024).
- Án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Vũ Đức T1, Vũ Văn N1, Nguyễn Văn T5 và Phạm Đăng D, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn C, Vũ Đức T1, Vũ Văn N1, Nguyễn Văn T5 và Phạm Đăng D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
13 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cuối tháng 10/2023, Nguyễn Văn Toàn nhờ Thái đứng tên ký hợp đồng thuê lại quán karaoke Thưởng Sơn của chị Sơn tại thôn An Vệ, xã Đức Xương, huyện Gia Lộc để kinh doanh (Thái không biết và không liên quan đến hoạt động kinh doanh của Toàn)
