|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 43/2024/HS - ST Ngày: 21-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Hùng Hạnh;
Ông Trần Hà Bắc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bùi Đức T, sinh năm 1975; nơi ĐKHKTT: Khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; tạm trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đ1; con ông Bùi Văn N và bà Trương Thị B; vợ là Doãn Thị B1; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
- Trần Văn Q, sinh năm 1980; nơi cư trú: Xóm G, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P và bà Bùi Thị L; vợ là Bùi Thị T1; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024; hiện tại ngoại “có mặt”.
- Phùng Văn C, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn K (đã chết) và bà Doãn Thị L1; vợ là Phạm Thị T2; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
- Phạm Văn Đ, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thịnh C1 và bà Lê Thị D (đều đã chết); vợ là Đoàn Thị T3; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
- Bùi Văn T4, sinh năm 1987; nơi cư trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang V và bà Phạm Thị T5; vợ là Nguyễn Thị L2; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
- Bùi Văn T6, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT: Bản Pa Pe, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; tạm trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L3 và bà Phan Thị T7; vợ là Lò Thị T8; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024; hiện tại ngoại; “có mặt”.
- Phạm Văn T9, sinh năm 1976; nơi cư trú: Xóm S, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thịnh C1 và bà Lê Thị D (đều đã chết); vợ là Đỗ Thị Thanh V1; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024; hiện tại ngoại; “có mặt".
Người làm chứng: Anh Bùi Văn V2; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 05-02-2024, Bùi Đức T, Bùi Văn T6, Bùi Văn T4, Phạm Văn Đ, Phạm Văn T9, Phùng Văn C và Trần Văn Q cùng nhau ăn uống tại nhà anh Bùi Văn V2 ở xóm S, xã G, huyện G. Trong khi ăn, có một số đối tượng rủ nhau sau bữa ăn sẽ đánh bạc ăn tiền. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, Bùi Đức T đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ rồi T, C, Đ, Q đi lên phòng kho tầng hai nhà anh V2, thống nhất đánh ba cây ăn tiền, mức độ ván thấp nhất đặt 10.000 đồng, ván cao nhất đặt 50.000 đồng. Sau đó lần lượt Phạm Văn T9, Bùi Văn T4 và Bùi Văn T6 lên tham gia đánh bạc cùng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi các đối tượng T, Q, Chiều, T4, T6, Đ, T9 đang đánh bạc ăn tiền thì bị lực lượng công an xã G, huyện G phát hiện bắt
quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.950.000 đồng, thu trên người Trần Văn Q số tiền 6.000.000 đồng trong đó Q khai nhận sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc; 07 điện thoại di động, 03 xe máy các loại và các vật chứng khác liên quan.
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận hành vi đánh bạc ăn tiền của mình như trên và xác định: Số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 5.950.000 đồng, thu giữ trên người Trần Văn Q số tiền 6.000.000 đồng. Trong đó: Bùi Đức T10 có 600.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt, bỏ cả tiền đang đánh xuống chiếu bạc. Trần Văn Q có 6.900.000 đồng, trong đó sử dụng 3.900.000 đồng vào việc đánh bạc, bỏ ra trước 900.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng cất trên người. Phạm Văn C2 khi đi mang theo 1.500.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Phạm Văn Đ có 500.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Bùi Văn T4 có 150.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Trong khi đánh thắng và cho T6 vay 1.000.000 đồng, còn lại khoảng 400.000 đồng tiếp tục đánh bạc. Bùi Văn T6 được Bùi Văn T4 cho vay 1.000.000 đồng để đánh bạc. Phạm Văn T9 có 150.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc
Tại bản Cáo trạng số 47/CTR ngày 22-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Bùi Đức T, Bùi Văn T6, Bùi Văn T4, Phạm Văn Đ, Phạm Văn T9, Phùng Văn C và Trần Văn Q về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Đức T, Bùi Văn T6, Bùi Văn T4, Phạm Văn Đ, Phạm Văn T9, Phùng Văn C và Trần Văn Q đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã nêu trên đồng thời tỏ ra ăn năn hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn hình phạt bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Bùi Đức T, Bùi Văn T6, Bùi Văn T4, Phạm Văn Đ, Phạm Văn T9, Phùng Văn C và Trần Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Bùi Đức T từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
Xử phạt Trần Văn Q từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Phùng Văn C từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.
Xử phạt Bùi Văn T4 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.
Xử phạt Bùi Văn T6 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.
Xử phạt Phạm Văn Đ từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.
Xử phạt Phạm Văn T9 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 02 năm.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là: 8.950.000 đồng ; tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc.
Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 15 giờ ngày 05-02-2024, tại nhà anh Bùi Văn V2 ở xóm S, xã G, huyện G, Trần Văn Q, Phùng Văn C, Phạm Văn Đ, Bùi Văn T4, Bùi Văn T6 và Phạm Văn T9 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây ăn tiền, với tổng số tiền đánh bạc là 8.950.000 đồng thì bị tổ tuần tra Công an xã G, huyện G tuần tra phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo T, Q, C, Đ, T4, T6, T9 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức đánh ba cây ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi của mình, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4]Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn cùng rủ nhau đánh bạc, HĐXX căn cứ vào thời gian, mức độ tham gia đánh bạc và số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi để Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp. Bùi Đức T là người chuẩn bị bài phục vụ đánh bạc nên giữ vai trò cao nhất, Trần Văn Q tham gia đánh bạc ngay từ đầu và có số tiền sử dụng vào đánh bạc nhiều nhất nên giữ vai trò thứ hai, còn lại các bị cáo Phạm Văn Đ, Phùng Văn C, Bùi Văn T4, Phạm Văn T9, Bùi Văn T6 giữ vai trò ngang nhau và sau cùng trong vụ án.
[7] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vị trí vai trò của mỗi bị cáo trong vụ án, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo là lao động chính trong gia đình, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian sẽ khó khăn cho gia đình nên cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù tuy nhiên chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách, phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Đối với số tiền 8.950.000 đồng các bị cáo dùng đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; Tịch thu cho tiêu hủy
01bộ bài tú lơ khơ thu giữ tại nhà Bùi Văn V2. Đối với 07 chiếc điện thoại di động, 03 xe máy các loại đã thu giữ của các bị can và số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người Trần Văn Q, quá trình điều tra xác định 07 điện thoại, 03 xe máy và 3.000.000 đồng thu giữ của Q không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo là phù hợp.
[10] Đối với anh Bùi Văn V2 là chủ nhà nơi các đối tượng đánh bạc, tuy nhiên khi các đối tượng đánh bạc tại nhà mình, anh V2 không biết nên vấn đề xử lý không đặt ra
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức T, Trần Văn Q, Phùng Văn C, Phạm Văn Đ, Bùi Văn T4, Bùi Văn T6 và Phạm Văn T9 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Bùi Đức T 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024).
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Văn Q 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024).
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- + Xử phạt Phùng Văn C 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024).
- + Xử phạt Phạm Văn Đ 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024).
- + Xử phạt Bùi Văn T4 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024).
- + Xử phạt Bùi Văn T6 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024).
- + Xử phạt Phạm Văn T9 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án (đã tạm giữ từ ngày 05-02-2024 đến ngày 08-02-2024).
Giao bị cáo Trần Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Bùi Đức T, Phùng Văn C, Phạm Văn Đ, Bùi Văn T4, Bùi Văn T6 và Phạm Văn T9 cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo dùng đánh bạc là: 8.950.000 đồng. Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ thu giữ tại nhà Bùi Văn V2 (Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 23-4-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Bùi Đức T, Trần Văn Q, Phùng Văn C, Phạm Văn Đ, Bùi Văn T4, Bùi Văn T6 và Phạm Văn T9 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 43/2024/HS - ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 43/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bui Văn T+ đồng phạm
