Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 14 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày 19 tháng 12 năm 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Duy Hiếu và ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 14 - An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 14 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Chau San - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Chau Pring, sinh ngày 26/3/2003; nơi sinh: xã Ô - An Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã Ô, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau T, sinh năm 1977 và bà Néang N, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 11/3/2024, bị Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc 17 tháng kể từ ngày 07/02/2024; đến ngày 22/3/2025, chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/10/2025 tại Phân trại tạm giam Cô T1 cơ sở 1 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Chau P: Ông Hà Quang V sinh năm 1971; Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 2 tỉnh A; địa chỉ: Số H L, phường L, tỉnh An Giang; (có mặt)

Người phiên dịch cho bị cáo Chau P: Ông Thạch Măng K sinh năm 1996; Giáo viên Trường P1; địa chỉ: Ấp A, xã T, An Giang. (có mặt)

Người làm chứng: Néang Nhên (có mặt); C (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ ngày 20/8/2025, Công an xã Ô mời các đối tượng có Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý cư trú trên địa bàn xã Ô, tỉnh An Giang để thử test kiểm tra ma túy. Nên, Cơ quan Công an mời Chau Pring thử test kiểm tra ma tuý, qua kiểm tra phát hiện P dương tính với chất ma tuý.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 19 giờ ngày 19/8/2025, Chau P đi đến khu vực phường C gặp một người thanh niên (không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể) mua ma tuý đá với giá 200.000 đồng để sử dụng, thì người thanh niên này đưa cho P 01 bọc ma tuý đá, rồi Pring cất giấu bọc ma tuý trong túi quần mang về nhà sử dụng. Đến khoảng 09 giờ ngày 20/8/2025, Lực lượng Công an xã Ô đến mời Pring kiểm tra test ma túy, kết quả P dương tính với chất ma túy.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A thu giữ: 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp màu trắng, bên ngoài có dán giấy trắng niêm phong ghi tên người được thu mẫu là Chau P. Chai được quấn băng keo trong suốt, bên trong chứa chất lỏng màu vàng là nước tiểu của Chau P. Đã sử dụng hết trong giám định.

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 446/KL-KTHS ngày 02/9/2025, của phòng K1 - Công an tỉnh A kết luận: Mẫu M gửi đến giám định có chứa thành phần chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKSKV14, ngày 14/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 14 - An Giang truy tố bị cáo Chau P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sụng năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chau P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người làm chứng ông Chau T và bà Néang N trình bày như nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Chau P mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: không có.

Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V trình bày lý đoán bào chữa cho bị cáo Chau P có nội dung: Hoàn toàn thống nhất theo bản cáo trạng đã nêu và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); ngoài ra, khi quyết định hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm về những tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cụ thể: Bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, người dân tộc Khmer, học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong thời gian bị tạm giam bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về lao động, giúp ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo Chau P nhất trí với bản luận tội, không bào chữa và tranh luận gì khác. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 14 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người phiên dịch, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người làm chứng ông Chau T vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 25/3/2025, Chau P bị Ủy ban nhân dân xã Ô1, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Ô, tỉnh An Giang) ra Quyết định số: 117/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú. Ngày 20/8/2025, tại Công an xã Ô, tỉnh An Giang, Chau P đã có thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, bị phát hiện.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm là tội phạm ít nghiêm trọng.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và sự an toàn của con người; xâm phạm chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo xuất thân thành phần lao động, trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu vì bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 17 tháng, vừa chấp hành xong được vài tháng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xét thấy: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, tội phạm ít nghiêm trọng nhưng bị cáo đã bị áp dụng nhiều biện pháp cai nghiện ma túy nhưng vẫn không khắc phục được. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, theo quan điểm của Trợ giúp pháp lý bào chữa cho bị cáo Chau P đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp nên được chấp nhận.

[5] Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Chau P, do chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, chưa làm việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Chau P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Chau P 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (tức ngày 20/10/2025).

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Chau P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 14 - AG;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh AG;
  • - Cơ quan THAHS-Công an AG;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Cô Tô;
  • - Phòng THADS khu vực 14 - AG;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Hoàng Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG về hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chau Pring sử dụng trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger