|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 26-11-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Tuấn Đạt và ông Nguyễn Văn Mẫn
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 và thông báo về việc dời lại thời gian mở phiên tòa xét xử sơ thẩm số 11/TB-TA ngày 19/11/2025, đối với bị cáo:
1/. Phạm Quang T, sinh năm 1993 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp N, xã T, tỉnh Đồng Nai).
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam: tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Xuân M, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1959; vợ, con: Không.
Tiền sự: không.
Tiền án: ngày 01/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển hàng cấm và Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Ngày 14/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ, tỉnh Đồng Nai, từ ngày 30/01/2025 đến nay (Có mặt).
2/. Tạ Ngọc B, sinh năm 1994 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp N, xã T, tỉnh Đồng Nai).
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam: tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tạ Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970; vợ: Sống chung với nhau như vợ chồng với Lục Thị T2, sinh năm 1998, nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; Có 01 con sinh năm 2023.
Tiền sự: không.
Tiền án: ngày 20/5/2014, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích và Trộm cắp tài sản. Hiện Tạ Ngọc B chưa bồi thường về phần trách nhiệm dân sự.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an tỉnh Đ, từ ngày 06/6/2025 đến nay (Có mặt).
3/. Phạm Ngọc H, sinh năm 1993 tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp N, xã T, tỉnh Đồng Nai).
Nơi ở hiện tại: A, khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam: tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Xuân M, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1959; vợ: Trần Thị Bích Q, sinh năm 1996; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2025
Tiền án, tiền sự: không.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Đ, tỉnh Đồng Nai, từ ngày 26/8/2025 đến nay (Có mặt).
- Người bị hại: Doanh nghiệp tư nhân T4 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp N, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Tạ Đình V, sinh năm: 1991 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Trường A, sinh năm: 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã P, tỉnh Đồng Nai (trước đây là ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai)
+ Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1998 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã T, tỉnh Đồng Nai (trước đây là ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 29/01/2025, sau khi đã uống bia cùng Phạm Ngọc H và Tạ Ngọc B, Phạm Quang T điều khiển xe mô tô biển số 59G2 - 767.06 di chuyển theo hướng thị trấn T đi P để về nhà mình tại ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai). Khi đi đến trước quán K thuộc thị trấn T, T nghe tiếng còi xe ô tô khách biển số 51B – 297.77 của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 do ông Tạ Đình V điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía sau nên giật mình. Do bực tức việc ông V bấm còi, T điều khiển xe mô tô đuổi theo, thách thức đòi đánh ông V. Khi đến trạm xăng thuộc ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai), T chặn đầu xe ô tô khách do ông V điều khiển rồi giữa T và ông V xảy ra cự cãi to tiếng, T dùng chân đạp mạnh một cái vào nắp capo xe ô tô khách và dùng tay đánh ba đến bốn cái vào mặt, người của ông V. Lúc này, Tạ Ngọc B (bạn T) và Phạm Ngọc H (anh ruột T) điều khiển xe mô tô chạy đến chỗ T, thấy T đang đánh ông V nên B, H dừng xe lao vào đuổi đánh ông V, bị đánh nên ông V bỏ chạy vào bên trong khu vực cây xăng thì B, H đuổi theo dùng tay đánh nhiều cái vào người ông V, còn T tiếp tục dùng tay đấm một cái vào gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô biển số 51B – 297.77 làm rớt gương ra khỏi xe ô tô và cầm gương chiếu hậu đập mạnh xuống đường. Sau đó, T nghe thấy tiếng ông V chửi mình nên chạy vào phía trong cây xăng và dùng tay đánh nhiều cái vào người ông V, khi người dân đến can ngăn thì T lên xe mô tô chạy về nhà. Đến tối cùng ngày, Phạm Quang T đến Công an xã P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Riêng Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B đã bỏ trốn khỏi địa phương sau khi thực hiện hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: 01 gọng gương chiếu hậu và 01 gương chiếu hậu của xe ô tô biển số 51B – 297.77 đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu Honda Click biển số 59G2 – 767.06; 01 đĩa DVD-R 16x bên trong có chứa 01 đoạn video dài 01 phút 50 giây ghi lại cảnh gây rối trật tự ngày 29/01/2025; 01 đĩa DVD-R 16x bên trong chứa 02 đoạn video có thời lượng 05 phút và 02 phút 17 giây ghi lại cảnh gây rối trật tự ngày 29/01/2025; 01 đĩa CD-R bên trong có chứa 01 đoạn video dài 09 phút 10 giây; 01 đĩa DVD-R 16x bên trong chứa một đoạn video dài 37 giây.
Trị giá tài sản thiệt hại: Tại Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 gương chiếu hậu bên trái bị bể móp, nắp capo bị móp, trầy sơn của xe ô tô hiệu Toyota Hiace biển số 51B 297.77, đã qua sử dụng có giá trị 5.910.000 đồng.
Cáo trạng số 01/CT-VKSTP-ĐN ngày 06/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 truy tố Phạm Quang T về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 318 và khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Tạ Ngọc B, Phạm Ngọc H về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Về tội danh:
- + Bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- + Bị cáo Tạ Ngọc B, Phạm Ngọc H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Về mức hình phạt:
- + Áp dụng: Khoản 1 Điều 318 và khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quang T
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Phạm Quang T từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo mức án từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tạ Ngọc B.
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Tạ Ngọc B từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù
- + Áp dụng: Khoản 1 Điều 318; Điều 38; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc H;
Đề nghị xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc H 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày tù, bằng với thời gian tạm giam.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại đã được anh V sửa chữa xe và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về mặt dân sự nên không xem xét.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tạ Đình V tại phiên tòa yêu cầu Phạm Quang T bồi thường chi phí anh V đã sửa chữa xe ô tô biển số 51B – 297.77 gồm gương chiếu hậu, làm đồng sơn nắp capo là 6.400.000 đồng. Hiện Phạm Quang T đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại Tạ Đình V tiếp tục yêu cầu bồi thường thêm số tiền 1.400.000 đồng.
- Yêu cầu Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B liên đới bồi thường số tiền thuốc khám chữa bệnh là 3.600.000 đồng.
- Tại phiên Tòa các bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy 01 gọng gương chiếu hậu và 01 gương chiếu hậu của xe ô tô biển số 51B – 297.77 đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án hiện nay không còn giá trị sử dụng.
Đối với thương tích của ông Tạ Đình V do Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B gây ra: quá trình điều tra, ông V khai nhận chỉ bị thương tích nhẹ ở phần mềm, hiện đã khỏi, không để lại di chứng nên làm đơn xin từ chối giám định thương tích nên không xem xét xử lý Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B về hành vi cố ý gây thương tích.
Đối với Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B: Không có sự bàn bạc, thống nhất ý chí hoặc trực tiếp tham gia cùng Phạm Quang T để làm hư hỏng xe ô tô khách biển số 51B – 297.77 nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.
Quá trình điều tra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tiến hành triệu tập, xác minh nhưng không có thông tin. Ngày 28/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định truy nã và Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B. Đến ngày 06/6/2025, Tạ Ngọc B bị Công an xã P, huyện T bắt theo Quyết định truy nã số 7883e/QĐTN-VPCQCSĐT ngày 28/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Đến ngày 26/8/2025, Phạm Ngọc H bị Công an T6 bắt theo Quyết định truy nã số 7883d/QĐTN-VPCQCSĐT ngày 28/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
Tại phiên tòa:
- + Các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã mô tả, các bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đồng ý bồi thường cho anh V như anh V đã yêu cầu tại phiên tòa.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh V trình bày: Theo hồ sơ vụ án thì anh yêu cầu Phạm Quang T bồi thường chi phí đã sửa chữa xe ô tô biển số 51B – 297.77 gồm gương chiếu hậu, làm đồng sơn nắp capo là 6.400.000 đồng. Yêu cầu Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B liên đới bồi thường số tiền thuốc khám chữa bệnh, tổn thất tinh thần là 23.600.000 đồng.
- Tại phiên tòa hôm nay anh xác định chỉ yêu cầu chi phí đã sửa chữa xe ô tô biển số 51B – 297.77 gồm gương chiếu hậu, làm đồng sơn nắp capo là 6.400.000 đồng. Hiện Phạm Quang T đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Anh Tạ Đình V tiếp tục yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm số tiền 1.400.000 đồng.
- Yêu cầu Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B liên đới bồi thường số tiền thuốc khám chữa bệnh là 3.600.000 đồng ngoài ra không yêu cầu bồi thường số tiền nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:
Vào lúc 17 giờ 50 phút, ngày 29/01/2025 tại ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là xã T, tỉnh Đồng Nai), chỉ vì cho rằng tiếng kèn xe ô tô biển số 51B – 297.77 của Công ty TNHH T5 do anh Tạ Đình V điều khiển bấm kèn to, làm Phạm Quang T giật mình nên T có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 59G2 - 767.06 chặn đầu xe ô tô của anh V rồi cùng Tạ Ngọc B, Phạm Ngọc H dùng tay, chân đánh nhiều cái vào vùng mặt, người anh V gây thương tích. Sự việc Phạm Quang T, Tạ Ngọc B, Phạm Ngọc H đánh ông Tạ Đình V diễn ra một cách công khai, tại địa điểm công cộng, có đông dân cư, gây hoang mang dư luận, có thái độ xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Cùng thời điểm trên tại xã T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Quang T còn có hành vi dùng chân đạp một cái vào nắp capo, dùng tay đấm vào gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô biển số 51B – 297.77 làm cho gương rớt xuống đất rồi tiếp tục nhặt gương lên đập thêm một cái nữa khiến gương bị bể phần vỏ gây hư hỏng tài sản. Tổng giá trị thiệt hại là 5.910.000 đồng.
+ Như vậy, hành vi trên của bị cáo Phạm Quang T về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 318 và khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
+ Hành vi của bị cáo Tạ Ngọc B, Phạm Ngọc H về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Dó đó, Cáo trạng số 01/CT-VKSTP-ĐN ngày 06/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho các bị cáo.
[3]. Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được rằng trật tự công cộng là trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỷ luật nơi công cộng. Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công viên, bệnh viện...được tổ chức, sắp xếp ngăn nắp, thực hiện nghiêm chỉnh. Đảng và Nhà nước ta luôn có đường lối, chính sách pháp luật để giữ vững ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào xâm phạm trật tự tại nơi công cộng một cách trái phép đều bị pháp luật nghiêm trị.
Thế nhưng vì lý do nhỏ nhặt trong đời sống, các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, các bị cáo đánh anh Tạ Đình V diễn ra một cách công khai, tại địa điểm công cộng, có đông dân cư, gây hoang mang dư luận, có thái độ xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Ngoài ra hành vi hủy hoại tài sản của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần có mức hình phạt đủ nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo trở thành công dân tốt chấp hành pháp luật.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo T có một tiền án về tội “Vận chuyển hàng cấm và Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo B có một tiền án về tội “Cố ý gây thương tích và Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ:
- + Bị cáo Phạm Ngọc H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện có con đang còn nhỏ, quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Bị cáo Phạm Quang T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Bị cáo Tạ Ngọc B được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4.3]. Về nhân thân:
Bị cáo T là người có nhân thân xấu.
[5]. Về áp dụng hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành; Từ nội dung đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định mức án phù hợp đối với từng bị cáo, vừa thể hiện sự nghiêm minh và sự khoan hồng của chính sách pháp luật.
[6]. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo H phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính đến ngày xét xử bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam 03 tháng 03 ngày.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo bằng với thời hạn đã tạm giam là 03 tháng 03 ngày tù và trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo cũng đủ để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[7]. Về các biện pháp tư pháp:
[7.1]. Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại đã được anh V sửa chữa xe và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về mặt dân sự gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tạ Đình V tại phiên tòa yêu cầu Phạm Quang T bồi thường chi phí anh V đã sửa chữa xe ô tô biển số 51B – 297.77 gồm gương chiếu hậu, làm đồng sơn nắp capo là 6.400.000 đồng. Hiện Phạm Quang T đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Anh Tạ Đình V tiếp tục yêu cầu bồi thường thêm số tiền 1.600.000 đồng.
- Yêu cầu Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B liên đới bồi thường số tiền thuốc khám chữa bệnh là 3.400.000 đồng, ngoài ra anh V không yêu cầu bồi thường số tiền nào khác.
- Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường cho anh V số tiền sửa xe còn lại là 1.400.000 đồng; bị cáo T, bị cáo H và bị cáo B cũng đồng ý liên đới bồi thường tiền thuốc khám chữa bệnh cho anh V là 3.600.000 đồng. Xét việc thỏa thuận bồi thường như trên là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Hội đồng xét xử chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 1.200.000 đồng.
[7.2]. Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu, tiêu hủy 01 gọng gương chiếu hậu và 01 gương chiếu hậu của xe ô tô biển số 51B – 297.77 đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng.
[8]. Các vấn đề khác:
- - Đối với thương tích của ông Tạ Đình V do Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B gây ra: quá trình điều tra, ông V khai nhận chỉ bị thương tích nhẹ ở phần mềm, hiện đã khỏi, không để lại di chứng nên làm đơn xin từ chối giám định thương tích nên không xem xét xử lý Phạm Quang T, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B về hành vi cố ý gây thương tích.
- - Đối với Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B: không có sự bàn bạc, thống nhất ý chí hoặc trực tiếp tham gia cùng Phạm Quang T để làm hư hỏng xe ô tô khách biển số 51B – 297.77 nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.
- - Quá trình điều tra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tiến hành triệu tập, xác minh nhưng không có thông tin. Ngày 28/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định truy nã và Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can Phạm Ngọc H, Tạ Ngọc B. Đến ngày 06/6/2025, Tạ Ngọc B bị Công an xã P, huyện T bắt theo Quyết định truy nã số 7883e/QĐTN-VPCQCSĐT ngày 28/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Đến ngày 26/8/2025, Phạm Ngọc H bị Công an T6 bắt theo Quyết định truy nã số 7883d/QĐTN-VPCQCSĐT ngày 28/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.
[10]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318 và khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quang T;
Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Quang T 10 (mười) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 10 (mười) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30/01/2025
2/. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tạ Ngọc B;
Tuyên bố bị cáo Tạ Ngọc B phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”
Xử phạt: Bị cáo Tạ Ngọc B 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/6/2025.
3/. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; Điều 38; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc H;
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc H 03(ba) tháng 03 (ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2025 và được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2025 đến ngày 26/11/2025 (bị cáo đã chấp hành xong).
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo H nếu không bị tạm giam về một tội phạm nào khác.
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
- - Buộc bị cáo Phạm Quang T phải có trách nhiệm bồi thường chi phí anh V đã sửa chữa xe ô tô biển số 51B – 297.77 số tiền 6.400.000 đồng, được đối trừ số tiền 5.000.000 đồng bị cáo đã tự nguyện bồi thường, nay bị cáo T phải bồi thường tiếp cho anh V số tiền còn lại là 1.400.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Phạm Quang T, bị cáo Tạ Ngọc B, bị cáo Phạm Ngọc H có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Tạ Đình V số tiền 3.600.000 đồng. Chia theo phần cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền là 1.200.000 đồng.
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 gọng gương chiếu hậu và 01 gương chiếu hậu của xe ô tô biển số 51B – 297.77.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 8 – Đồng Nai) ngày 28/5/2025).
6. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội gây rối trật tự công cộng và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử Phạm Quang trung và đồng phạm về tội "Gây rối trật tự cộng cộng"
