|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 06 – 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải Hà
Ông Trương Đắc Tạo
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Cường - Kiểm sát viên .
Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 06/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 12/5/2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh năm 1986 tại tỉnh Bến Tre.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên lái xe tải tại Công ty TNHH MTV D; Trình độ học vấn: 12/12.
Nơi cư trú: Tổ D, ấp X, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Cha: Bùi Văn S, sinh năm 1962, Mẹ: Phạm Thị T1, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ tên: Lưu Thị H, sinh năm 1985; Bị cáo có 4 người con: Bùi Minh T2, sinh năm 2011; Bùi Anh N, sinh năm 2013, Bùi Hương Như Ý, sinh năm 2017; Bùi Ánh N1, sinh năm 2023; Bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 29/08/2012, bị TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 14 tháng về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, theo bản án số 120/2012HSST, T đã chấp hành xong bản án và đóng án phí.
Ngày 26/01/2025, có hành vi vận chuyển 53 kg pháo nên bị bắt quả tang tại khu phố A, thị trấn T, huyện H và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tạm giữ.
Ngày 31/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Bùi Văn T. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2025, đến ngày 25/4/2025, T được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang cho gia đình bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 26/01/2025, Bùi Văn T điều khiển xe ô tô bán tải biển số 74C-064.04 đi từ khu vực cửa khẩu Quốc tế H1 để về nhà tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trên đường về, T ghé một quán nước ven đường tại khu vực gần cửa khẩu Quốc tế H1 để uống nước, tại đây T gặp được một người đàn ông tên L (không rõ nhân thân, lai lịch), là người Tài quen biết khi đi làm công trình từ 2 năm trước, T nói chuyện, hỏi L có pháo không, bán cho T để về sử dụng và cho bạn bè. Nghe T hỏi vậy, L nói “Anh muốn mua bao nhiêu”, T trả lời “Anh mua 30 bệ pháo hoa và 06 bịch pháo bi, em có thì bán cho anh”, L nói “Pháo hoa giá 300.000 đồng/bệ, còn pháo bi 70.000 đồng/bịch”. Sau đó, L nói T điều khiển xe đi ra ngoài đường đợi. Khoảng 15 phút sau, L chở theo 02 thùng giấy carton và 04 túi nylon bên trong đựng pháo, đi đến chỗ T đậu xe để bán pháo cho T. T mở 02 thùng giấy carton ra đếm có 22 bệ pháo hoa, mở 04 túi nylon màu đen ra đếm có 08 bệ pháo hoa và 06 túi pháo bi. T nhận pháo và trả cho L số tiền là 9.420.000 đồng, T lấy toàn bộ số pháo trên đưa lên thùng sau xe ô tô bán tải màu trắng, biển số 74C-064.04 rồi điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường Q thuộc khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị tổ tuần tra của Đội CSGT đường bộ thuộc phòng C Công an tỉnh B dừng phương tiện để kiểm tra, phát hiện trong thùng phía sau xe ô tô có chứa pháo nên lập biên bản bắt quả tang; lập biên bản niêm phong thu giữ 30 bệ pháo hoa có khối lượng 50,5kg và 06 túi pháo bị có trọng lượng 2,5kg. Tổng số lượng pháo thu giữ là 53kg.
Trong quá trình điều tra, Bùi Văn T đã khai toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định số 149/KL-KTHS ngày 28/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, xác định: 30 khối hình hộp chữ nhật ký hiệu là M1 được niêm phong, gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ), khi đốt bay lên cao, nổ, phát ra tiếng rít và ánh sáng màu, tổng khối lượng 50,5 kg. Các vật hình cầu tròn bằng
nhựa (dạng quả bóng đá) nhiều màu ký hiệu là M2 được niêm phong, gửi giám định là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn, tổng khối lượng là 2,5 kg.
Vật chứng thu giữ của vụ án:
30 khối hình hộp, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, kích thước mỗi hộp là 17cm x 17cm x10cm có tổng khối lượng 50,5kg.
06 túi nylon trong suốt, bên trong mỗi túi có các vật hình cầu, trên đầu mỗi vật đều gắn 01 đoạn dây màu xanh dài khoảng 2cm, có tổng khối lượng là 2,5kg.
01 xe ô tô bán tải, nhãn hiệu ISUZU, biển số 74C-064.04.
Xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 50,5 kg pháo hoa dạng nổ và 2,5kg pháo bi dạng nổ thu tại hiện trường, sau giám định còn lại 26,15kg pháo hoa dạng nổ và 1,55kg pháo bi dạng nổ là vật thuộc loại nhà nước cấm mua bán, lưu hành, vận chuyển. Ngày 26/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 159/QĐ-ĐTTH, đã tổ chức tiêu hủy theo quy định nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
Đối với xe ô tô bán tải, nhãn hiệu ISUZU, biển số 74C-064.04 là phương tiện T sử dụng để vận chuyển 53kg pháo vào ngày 26/01/2025. Đây là tài sản hợp pháp của Bùi Văn T. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh
Cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố Bị cáo Bùi Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức hình phạt chính là phạt tiền với số tiền từ 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng đến 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
Tranh luận: Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa Bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như sau:
Ngày 26/01/2025, Bùi Văn T đi mua 30 hộp pháo hoa dạng nổ và 6 bịch pháo bị nổ của người đàn ông tên L tại khu vực cửa khẩu Quốc tế H1 với số tiền là 9.420.000đ, để về đốt và cho bạn bè. Sau đó, T đưa toàn bộ số pháo trên lên xe ô tô bán tải biển số 74C-064.04 rồi điều khiển xe chạy về nhà. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi trên Quốc lộ A đến đoạn thuộc khu phố A, thị trấn T, huyện H thì bị Đội Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B kiểm tra, phát hiện trên xe có pháo nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; xác định khối lượng số pháo T vận chuyển là 50,5kg pháo hoa dạng nổ và 2,5kg pháo bị nổ, tổng số khối lượng pháo thu giữ là 53kg.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn T phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hiện trường, Biên bản niêm phong đồ vật và vật chứng thu giữ. Hành vi này của Bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” nên Cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
Điều 191. Tội vận chuyển hàng cấm
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
...
g) Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam;
...”
Đối với người đàn ông tên L bán pháo cho Bùi Văn T vào ngày 26/01/2025. Hiện nay chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của người đàn ông tên L nên không có căn cứ để xử lý.
[4] Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình được pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có pháo hoa nổ và pháo bị nổ để sử dụng và cho bạn bè nên Bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi vận chuyển pháo hoa nổ và pháo bị nổ nêu trên là hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành trên thị trường Việt Nam do bị cáo Bùi Văn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; là lao động chính, trực tiếp nuôi 04 con nhỏ, vợ bị cáo đã ly thân; gia đình có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cần giảm một phần hình phạt cho Bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phân tích trên, bị cáo có công việc và thu nhập ổn định (Bị cáo cung cấp hợp đồng lao động, thể hiện thu nhập từ tiền lương 8.000.0000 đồng/ tháng, phụ cấp 2.200.000 đồng/ tháng) nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Xử lý vật chứng:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên đề nghị như nội dung bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 29 tháng 4 năm 2025 là phù hợp nên chấp nhận.
Việc xử lý vật chứng trong quá trình điều tra, truy tố là đúng quy định pháp luật.
[7] Án phí: Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị mức án đối với Bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, tình tiết vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T hình phạt chính là phạt tiền với số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu, sung công quỹ nhà nước: Xe ô tô bán tải, nhãn hiệu ISUZU, biển kiểm soát 74C-064.04 là phương tiện T sử dụng để vận chuyển 53kg pháo vào ngày 26/01/2025. Đây là tài sản hợp pháp của Bùi Văn T, là phương tiện phạm tội.
(Vật chứng được mô tả và được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ-VKS ngày 29/4/2025 của Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).
Các vật chứng khác đã được xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xử lý.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vận chuyển hàng cấm (hình sự)
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: a
