Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/5/2025

“V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Hiền và bà Hồ Thị Lan
  • Thư ký phiên tòa: bà Phùng Hương Giang - Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: số: 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Đỗ Thị T, sinh năm 1991; nơi cư trú: tổ B, khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  • - Bị đơn: anh Đoàn Hữu Đ, sinh năm 1990; nơi cư trú: tổ B, khu A, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày:

- Về tình cảm: chị T và anh Đoàn Hữu Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 24/6/2014 tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, anh, chị hòa thuận được mấy năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ứng xử của anh Đ trong cuộc sống gia đình, cụ thể: anh Đ không chia sẻ với chị T trong công việc gia đình, tất thảy để một mình chị T gánh vác, lo toan. Về kinh tế, anh Đ chỉ đưa cho chị T một phần thu nhập của mình, vừa đủ để chi tiêu sinh hoạt thiết yếu cho cá nhân anh Đ và thêm vào một phần để chi phí ăn học cho con, phần còn lại anh Đ giữ chi tiêu, tích luỹ riêng cho cá nhân. Hơn thế, anh Đ không có sự tôn trọng chị T và bố mẹ đẻ chị T, những lúc không vừa ý mình trong cuộc sống vợ chồng, anh Đ thường chửi bới xúc phạm chị T và đòi lại tiền đã đưa. Do thực trạng vợ chồng như trên không cải thiện được dẫn đến khoảng 4 đến 5 năm trở lại đây vợ chồng không còn sự yêu thương quý trọng lẫn nhau, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt, không còn ai có động lực để vun vén hạnh phúc gia đình mà mạnh ai người đó sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T ly hôn với anh Đoàn Hữu Đ.

- Về con chung: anh, chị có 02 con chung là Đoàn Hữu B, sinh ngày 26/10/2014 và Đoàn Bảo A, sinh ngày 24/12/2015. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi), anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000đ (ba triệu đồng) kể từ ngày quyết định/bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi (cấp dưỡng đối với mỗi con chung là 1.500.000đ/1 tháng).

- Về tài sản và khoản nợ chung: anh, chị tự thoả thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đoàn Hữu Đ trình bày:

- Về tình cảm: trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, anh Đ xác nhận về việc kết hôn, chung sống, thực trạng mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày ở trên là đúng. Về nguồn tiền chi tiêu sinh hoạt gia đình, hàng tháng anh Đ chỉ một phần thu nhập của mình cho chị T, số tiền là 7.000.000 đồng, phần còn lại do chị T chủ động lo. Toàn bộ việc chi tiêu, chăm lo, chăm sóc cho gia đình do chị T đảm nhiệm là chính, anh Đ chỉ tập trung đi làm kinh tế và đưa cho chị T số tiền nói trên. Lý do anh Đ không đưa hết thu nhập của mình cho chị T là vì vợ chồng hiện đang sinh sống trên đất của bố mẹ đẻ chị T nên anh Đ phải giữ lại 1 phần thu nhập để sau này có vốn xây dựng nhà ở trên đất của bố mẹ anh Đ. Thực trạng cuộc sống vợ chồng của anh, chị hiện nay không còn cảm thấy hạnh phúc và rất khó để cải thiện. Nay chị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Đ hoàn toàn nhất trí.

- Về con chung: anh, chị có 02 con chung, tên tuổi các con chung như chị T trình bày nêu trên là đúng. Nếu trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn anh Đ đề nghị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đoàn Hữu B, chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đoàn Bảo A cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản và khoản nợ chung: anh, chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

  • - Chị T giữ nguyên quan điểm như trong quá trình giải quyết vụ án.
  • - Anh Đ trình bày có mức thu nhập bình quân hàng tháng từ 15 đến 16 triệu đồng, nhưng chỉ đưa cho chị T số tiền 07 triệu đồng; thừa nhận có cư xử không tôn trọng chị T và bố mẹ đẻ chị T, nhưng thời gian gần đây anh Đ đã chủ động nói chuyện hàn gắn, mong muốn chị T bỏ qua nhất trí vợ chồng đoàn tụ, anh Đ hứa sẽ sửa sai, trong đó sẽ đưa toàn bộ thu nhập của mình cho chị T quản lý chi tiêu cho cuộc sống gia đình. Trường hợp chị T không nhất trí đoàn tụ, anh Đ đề nghị anh, chị mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung với ai. Nếu anh Đ được giao trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung, anh Đ sẽ đưa con về sinh sống cùng bố mẹ đẻ anh Đ và học tập tại phường H, thành phố H.

- Kiểm sát Viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến như sau:

  • + Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự được đảm bảo đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự, của nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều: 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
  • + Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị T về việc ly hôn, nuôi con, cụ thể: xử cho chị T ly hôn với anh Đ, giao cả 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị T mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi (cấp dưỡng đối với mỗi con chung là 1.5000.000 đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị T là tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự; tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại địa bàn phố H. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo đúng về thẩm quyền quy định tại khoản điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và do Toà án tiến hành thu thập theo đúng trình tự pháp luật quy định, các đương sự không có ý kiến gì. Do đó, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được sử dụng là căn cứ giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: anh, chị Đ - T kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2018. Quá trình chung sống anh, chị hoà thuận được mấy năm đầu, sau đó cuộc sống chung phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Đ không có sự yêu thương quý trọng chị T và cư xử thiếu tôn trọng đối với bố mẹ đẻ chị T. Do mâu thuẫn vợ chồng anh, chị trong nhiều năm cải thiện được dẫn đến không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống của ai người ấy lo, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Xét hôn nhân giữa anh, chị đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T ly hôn với anh Đ.

- Về con chung: anh, chị trình bày có 02 con chung tên tuổi như trên, phù hợp với tài liệu trong hồ sơ vụ án. Đối với quan điểm của anh, chị về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung như nêu ở phần trên, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ lời khai của các đương sự và kết quả xác minh tại địa phương đủ căn cứ xác định: từ khi sinh ra đến nay các con chung sinh sống cùng anh, chị tại địa bàn phường T cho đến thời điểm hiện tại. Bản thân anh, chị đều là người có lối sống lành mạnh, có việc làm và thu nhập ổn định, cùng đóng góp kinh tế vào việc nuôi dưỡng các con chung. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án anh, chị đều có lời khai xác nhận mọi việc chăm sóc các con chung hàng ngày phần lớn do chị T đảm nhiệm, kết quả xác minh cũng thể hiện anh Đ do tính chất công việc nên thường xuyên vắng mặt ở nhà, cho thấy chị T có sự gắn bó, gần gũi với các con chung hơn so với anh Đ. Ngoài ra, chị T chứng minh được có nơi ở ổn định là ngôi nhà 02 tầng tại địa bàn phường T, trong đó thửa đất này (quyền sử dụng đất chị T được bố mẹ đẻ tặng cho riêng) giáp liền kề với nhà bố mẹ đẻ chị T, cũng chính là nơi các con sinh sống từ khi sinh ra đến nay. Cho thấy, các con chung hiện đang được đảm bảo có chỗ ở ổn định, ngoài sự chăm sóc của chị T còn được sự quan tâm, hỗ trợ của bố mẹ đẻ chị T. Đối với anh Đ, tuy có lối sống lành mạnh, có việc làm và thu nhập ổn định nhưng ít có sự gắn bó, gần gũi và chăm sóc các con chung hơn so với chị T. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án cả 02 con chung đều có nguyện vọng được chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, vì vậy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh Đ như trên không phù hợp với nguyện vọng của các con chung. Bên cạnh đó, các con chung từ khi sinh ra đến nay đều sinh sống, học tập ổn định tại địa bàn phường T nên việc giao 01 con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ làm xáo trộn môi trường sống, học tập dễ gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý các con chung. Do đó, cần giao cả 02 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên nhằm đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con chung theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: quá trình giải quyết vụ án chị T yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng, kể từ ngày bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung thành niên như trên. Xét yêu cầu này của chị T phù hợp với quy định của pháp luật và mức thu nhập bình quân hàng tháng của anh Đ, nên cần chấp nhận.

- Về tài sản, khoản nợ chung: các đương sự đều không đề nghị Toà án giải quyết, nên không xét.

[3]Về án phí: chị Đỗ Thị T xin ly hôn, anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[2] Tuyên xử:

* Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”:

  • - Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Đỗ Thị T ly hôn với anh Đoàn Hữu Đ
  • - Về con chung: giao cho chị Đỗ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con chung Đoàn Hữu B, sinh ngày 26/10/2014 và Đoàn Bảo A, sinh ngày 24/12/2015 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đoàn Hữu Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị Đỗ Thị T mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng), kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung thành niên (cấp dưỡng đối với mỗi con chung là 1.500.000 đồng).

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

* Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: buộc chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp, theo biên lai thu số 0001765 ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; anh Đoàn Hữu Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Hạ Long;
  • - VKSND Tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND ủy ban nhân dân phường Giếng Đáy, TP Hạ Long;
  • - Các đương sự;
  • - Thi hành án dân sự TP Hạ Long;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger