Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 29/5/2025

“Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Lĩnh Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thúy Vân

Ông Nguyễn Bá Soa

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 30/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 04 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/05/2025 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Lê Như P, sinh năm 1977 Có mặt

Địa chỉ: khối D, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1974 Vắng mặt

Địa chỉ: khối D, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 14/01/2025, tại bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Như P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Như P và chị Nguyễn Thị Minh T đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 11/8/2003 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh P và chị T đã sống ly thân từ năm 2020 cho tới nay. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng cho nhau cơ hội sửa chữa nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng sâu sắc. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được anh Lê Như P xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh T.

Về con chung, vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Nhật M, sinh ngày 17/01/2005 và cháu Lê Khánh N, sinh ngày 03/5/2008. Nay ly hôn, anh P có nguyện vọng giao cháu Khánh N cho chị Nguyễn Thị Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Đối với cháu Nhật M đã trên 18 tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về khoản nợ: Vợ chồng không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 19/02/2025, chị Nguyễn Thị Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, vào năm 2003, chị Nguyễn Thị Minh T và anh Lê Như P đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc và sinh được hai người con. Chị T và anh P không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Nay anh P yêu cầu ly hôn, chị T không đồng ý. Chị T có nguyện vọng đoàn tụ, vợ chồng cùng nhau xây dựng hạnh phúc, nuôi dạy con cái. Tuy cuộc sống vợ chồng có một số tranh cãi nhỏ nhặt nhưng không đến mức trầm trọng phải ly hôn.

Về con chung: vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Nhật M, sinh ngày 17/01/2005 và cháu Lê Khánh N, sinh ngày 03/5/2008. Trong trường hợp ly hôn, chị Nguyễn Thị Minh T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Khánh N, không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Nhật M đã trên 18 tuổi trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về khoản nợ: Vợ chồng không vay nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến nay như sau: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho VKS nhân dân thành phố V đầy đủ, đúng quy định pháp luật, các đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lê Như P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh T; Về con chung: Giao con chung cháu Lê Khánh N, sinh ngày 03/5/2008 cho chị Nguyễn Thị Minh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Lê Như P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/01tháng; thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 5 năm 2025 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Đối với cháu Lê Nhật M sinh ngày 17/01/2005 đã trên 18 tuổi trưởng thành, không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Miễn xét.

Về án phí: Anh Lê Như P phải chịu nghĩa vụ án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án hôn nhân gia đình do anh Lê Như P yêu cầu, nơi ĐKHKTT và cư trú của chị Nguyễn Thị Minh T ở khối D, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Minh T. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Minh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[2]. Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Lê Như P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Như P và chị Nguyễn Thị Minh T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/8/2003 tại UBND phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Như vậy, hôn nhân của họ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Anh P trình bày, sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau. Cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh P và chị T đã sống ly thân từ năm 2020 cho tới nay. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng cho nhau cơ hội sửa chữa nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng sâu sắc. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được anh Lê Như P xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh T. Chị Nguyễn Thị Minh T trình bày vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Nay anh P yêu cầu ly hôn, chị T không đồng ý. Chị T có nguyện vọng đoàn tụ, vợ chồng cùng nhau xây dựng hạnh phúc, nuôi dạy con cái. Tuy cuộc sống vợ chồng có một số tranh cãi nhỏ nhặt nhưng không đến mức trầm trọng phải ly hôn. Mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Nguyễn Thị Minh T đều vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Điều này chứng tỏ chị T không có ý thức níu kéo, gìn giữ hạnh phúc gia đình. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh P, chị T thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho anh Lê Như P được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh T.

- Về quan hệ con chung: vợ chồng có hai con chung là cháu Lê Nhật M, sinh ngày 17/01/2005 và cháu Lê Khánh N, sinh ngày 03/5/2008. Nay ly hôn, anh P có nguyện vọng giao cháu Khánh N cho chị Nguyễn Thị Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Chị Nguyễn Thị Minh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Khánh N. Xét thấy nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con của chị Minh T là chính đáng; việc anh P đề nghị cấp dưỡng cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng là hoàn toàn tự nguyện. Do vậy, để cháu Khánh N phát triển đầy đủ thể chất, tinh thần, ổn định cuộc sống cần giao cháu Lê Khánh N cho chị Nguyễn Thị M1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của cháu N. Anh Lê Như P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 5 năm 2025 cho đến khi cháu Khánh N đủ tuổi trưởng thành. Đối với cháu Nhật M đã trên 18 tuổi trưởng thành, HĐXX không xem xét.

Anh Lê Như P được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Như P và chị Nguyễn Thị Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[3]. Về án phí:

Anh Lê Như P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Như P và chị Nguyễn Thị Minh T được ly hôn nhau.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Khánh N, sinh ngày 03/5/2008 cho chị Nguyễn Thị Minh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Lê Như P có nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng kể từ tháng 5 năm 2025 đến khi cháu Khánh N đủ 18 tuổi trưởng thành.

    Anh Lê Như P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về tài sản chung và khoản nợ: Miễn xét
  4. Về án phí: Buộc anh Lê Như P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo biên lai số 0005167 ngày 17 tháng 01 năm 2025. Anh Lê Như P phải nộp tiếp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
  5. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án anh Lê Như P có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị Minh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND thành phố Vinh;
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh;
  • - UBND phường Trường Thi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lĩnh Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ – ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger