|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HSPT Ngày: 08-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung
Bà Đào Thị Thu Thuỷ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu H - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2025/HSPT ngày 04/3/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
* Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 25/3/2008 (Chưa thành niên);
Giới tính: Nam; Số CCCD: [...];
HKTT: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hoá;
Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và con bà Trịnh Thị H1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/2/2024 bị Công an phường D, thành phố T xử lý hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng các loại pháo, thuốc pháo trái quy định.
Bị bắt tạm giữ ngày 06/10/2024 đến ngày 15/10/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Mỹ H2 - Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.
Địa chỉ: Số G T, phường D, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1977, Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Các bị cáo: Nguyễn Huy Hoàng A; Vũ Minh D; Bùi Ngọc D1; Phạm Đức T5; Lê Xuân T1; Lương Bá H3; Lương Anh H4; Nguyễn Công K; Nguyễn Văn T; Lê Văn H5; Nguyễn Thành Đ1 không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 03/10/2024, nhóm của Nguyễn Huy Hoàng A gồm: Bùi Ngọc D1 điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36AC-54037 chở Nguyễn Thành Đ1; Nguyễn Công K điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36B7-20659 chở Lê Văn H5; Lương Anh H4 điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36B7-25048 chở Nguyễn Văn T; Phạm Đức T5 điều khiển xe mô tô Honda Visson, biển kiểm soát 36B7-68789 chở Nguyễn Huy Hoàng A đi chuyển trên đường L, phường D, thành phố T thì gặp Lê Xuân T1 điều khiển xe máy Galaxy, biển kiểm soát 36AC- 00759 chở Quách Thị H6 (sinh năm 2006, trú tại khu phố X, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) là bạn gái cũ của Nguyễn Huy Hoàng A; Lương Bá H3 điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 36B2-65745 chở Cao Thị T2 (sinh năm 2007, trú tại xóm A, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) đi cùng chiều. Do bực tức việc bạn gái cũ đi chơi với T1 nên Hoàng A nói T5 vượt lên chặn đầu xe. Hoàng A xuống xe chửi, dùng tay đấm 02 phát vào mặt T1, thấy vậy H6 đứng ra can ngăn. Hai bên nói chuyện khoảng 10 phút rồi lên xe bỏ đi. Bực tức vì bị Hoàng A đánh nên T1 và H3 điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 36B2-65745 về nhà hàng M số 97 T, phường D, thành phố T (nơi T1 và H3 làm việc) lấy 01 chiếc gậy ba khúc bằng sắt dài khoảng 25cm đến nhà Vũ Minh D kể lại việc T1 bị đánh và rủ D cùng đi đánh nhóm Hoàng A. H3 đưa cho D 01 chiếc gậy ba khúc cất giấu vào trong người. H3 chở T1 còn D một mình điều khiển xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 36AC-56501 đến đón Lê Đình H7 (sinh năm 2006) tại phố F, phường D, thành phố T) cùng đi (khi rủ H7, D chỉ nói là đi uống nước, không nói cho H7 biết việc đang đi tìm nhóm Hoàng A để đánh). Sau đó cả nhóm di chuyển đến đường B, phường H. Trên đường đi T1 gọi điện cho Hoàng A hẹn gặp để đánh nhau.
Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, nhóm T1 gặp nhóm Hoàng A tại trước quán D2, số 88 T1, phường H, thành phố T. Tại đây các đối tượng xuống xe chửi bới, thách thức lao vào đánh nhau. D rút 01 chiếc gậy ba khúc giấu trong người đập 01 phát vào đầu D1. Lúc này D1 nói với K “Chở về nhà lấy đồ” thì K dừng xe mô tô chờ D1 về nhà D1 lấy 01 gậy sắt rỗng dài 75cm, đường kính 02cm. H5 điều khiển xe mô tô theo sau về nhà D1 lấy 02 vỏ chai bia (quả tang những người còn lại của hai nhóm vẫn đứng ngoài đường chửi bới, thách thức nhau). Khi thấy H5 quay lại cầm 02 vỏ chai bia lao tới, D1 cầm 01 tuýp sắt xông vào hô hoán và đập 02 phát vào người D, thì Hoàng A, D1, T, H4, K, T5 cùng lao vào dùng tay, chân đấm đá nhóm T1. Quá trình xô xát, D1 giật 01 vỏ chai bia từ H5 đập 02 phát vào người T1, T nhất được 01 chiếc gậy ba khúc từ D đập vào người H3. Khi thấy D và Đ1 bị thương, chảy máu thì các đối tượng dừng lại, đưa đến Trạm y tế phường Hàm Rồng sơ cứu vết thương. Ngày 06/10/2024, nhận thấy hành vi không thể trốn tránh nên các đối tượng đến Công an thành phố T đầu thú, khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể Nguyễn Thành Đ1: 01 vết thương hở vùng đỉnh đầu bên phải, kích thước (0,1x01) cm gây chảy máu.
Kết quả xem xét dấu vết trên thân thể Vũ Minh D: 01 vết thương vùng thái dương trái, kích thước (02x01)cm; Sưng nề vùng thái dương trái; 02 vết thương ở cánh tay trái.
Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Minh D là 3%; Nguyễn Thành Đ1 là 1%.
Ngày 12/10/2024 Vũ Minh D; Nguyễn Thành Đ1 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự về hành vi gây thương tích cho D và Đ1.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc gậy sắt rỗng, dài 75cm, đường kính 02cm; 01 chiếc xe mô tô Honda Vision màu xám đen, biển kiểm soát 36AC- 56501; 01 chiếc xe mô tô Honda Vision màu nâu đỏ, gắn biển kiểm soát 36B7- 68789;
Đối với chiếc xe mô tô Honda Vision màu xám đen, biển kiểm soát 36AC- 56501 và xe mô tô Honda Vision màu nâu đỏ, gắn biển kiểm soát 36B7-68789 do các đối tượng điều khiển, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, nên chuyển Công an thành phố Thanh Hóa xử lý theo quy định.
Đối với hành vi của Vũ Minh D dùng gậy ba khúc bằng sắt đánh gây thương tích cho Nguyễn Thành Đ1 (tổn thương cơ thể 1%), Nguyễn Thành Đ1, Nguyễn Công K, Lê Văn H5, Lương Anh H4 dùng tay, chân và gậy sắt đánh gây thương tích cho Vũ Minh D (tổn thương cơ thể 3%), D và Đ1 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ gồm: “Giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ” của Bùi Ngọc T3, chủ xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36B7- 20659 (bố của Bùi Ngọc D1); Nguyễn Văn T4, chủ xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36AC-54037 (bố của Nguyễn Thành Đ1); Nguyễn Văn D, chủ xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36B7-25048 (bố của Nguyễn Văn T); Vũ Thị H8, chủ xe mô tô Honda Wave RSX, biển kiểm soát 36B2-65745 (mẹ của Lương Bá H3). Hành vi “Điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ không có giấy phép lái xe theo quy định” của Bùi Ngọc D1; Nguyễn Công K; Lương Anh H4; Phạm Đức T5; Lương Bá H3; Vũ Minh D; Hành vi “Không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô” của Nguyễn Thành Đ1; Bùi Ngọc D1; Nguyễn Công K; Lê Văn H5; Lương Anh H4; Nguyễn Văn T; Phạm Đức T5; Nguyễn Huy Hoàng A, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với Lê Đình H7, quá trình điều tra xác định, H7 đi cùng D, T1, H3 nhưng không biết mục đích để đi đánh nhau với nhóm Hoàng A. Khi hai nhóm xô xát đánh nhau, H7 không tham gia nên không phạm tội.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với Nguyễn Huy Hoàng A và Vũ Minh D); Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với Bùi Ngọc D1 và Nguyễn Văn T); Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự (đối với Phạm Đức T5); Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự (đối với Lê Xuân T1, Nguyễn Thành Đ1, Lương Bá H3, Lê Văn H5, Nguyễn Công K và Lương Anh H4).
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Huy Hoàng A, Vũ Minh D, Bùi Ngọc D1, Phạm Đức T5, Lê Xuân T1, Lương Bá H3, Lương Anh H4, Nguyễn Công K, Nguyễn Văn T, Lê Văn H5, Nguyễn Thành Đ1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
- Nguyễn Huy Hoàng A 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2024.
- Vũ Minh D 28 (Hai tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/10/2024.
- Bùi Ngọc D1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2024.
- Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù (được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 06/10/2024 đến ngày 15/10/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Phạm Đức T5 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Lê Xuân T1 22 (Hai hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 44 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Lê Văn H5 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Nguyễn Thành Đ1 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Lương Anh H4 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Lương Bá H3 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Nguyễn Công K 18 (Mười tám) tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lê Văn H5, Lê Xuân T1, Lương Anh H4, Lương Bá H9, Nguyễn Thành Đ1 và Nguyễn Công K cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Giao bị cáo Phạm Đức T5 cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xét xử, bị cáo Nguyễn Văn T làm đơn kháng cáo bản án với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo công nhận hành vi phạm tội như quyết định của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là đúng và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T:
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá đối với bị cáo Nguyễn Văn T; Giữ nguyên hình phạt 18 tháng tù nhưng cho bị cáo T được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 124; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên để sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá về thời gian thử thách đối với các bị cáo Lê Xuân T1, Lê Văn H5, Nguyễn Thành Đ1 do cấp sơ thẩm áp dụng chưa đúng quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03/10/2024, nhóm của Vũ Minh D gồm: D, Lê Xuân T1, Lương Bá H3 và nhóm của Nguyễn Thành Đ1 gồm: Đ1, Nguyễn Văn T, Lê Văn H5, Bùi Ngọc D1 đã có hành vi chuẩn bị và dùng gậy ba khúc bằng sắt, tuýp sắt, vỏ chai bia, Nguyễn Công K, Lương Anh H4, Nguyễn Huy Hoàng Anh Phạm Đức T5 khi thấy D1, H5 (nhóm mình) cầm hung khí (tuýp sắt, vỏ chai bia) lao tới, hô hoán đánh nhau thì tiếp nhận ý chí, lao vào dùng tay, chân lùa đuổi, đánh nhau với nhóm của Vũ Minh D tại trước quán để Minh T6, khu vực đông dân cư và người qua lại thuộc đường B, phường H, thành phố T làm mất trật tự an toàn nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn.
Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T và đồng bọn về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo chỉ kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho hưởng án treo.
- Xét kháng cáo của bị cáo:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo gồm: Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú để khai nhận hành vi phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của BLHS
Tại giai đoạn phúc thẩm:
Bị cáo giao nộp cho Tòa án thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là: Bị cáo có đơn xin xác nhận gia cảnh và xin được hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; Bị cáo đã tham gia ủng hộ quỹ “Vì Người nghèo” của Mặt trận Tổ quốc xã Y. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết giảm nhẹ nhân thân, vai trò của bị cáo để xử phạt mức án 18 tháng tù là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Về xin hưởng án treo: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng xác nhận cho bị cáo xin được hưởng án treo. Xét thấy: Khi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên, đang là học sinh. Sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để được hưởng án treo nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phù hợp quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên.
Do đó chấp nhận một phần kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà là có căn cứ.
[3] Trong vụ án này, các bị cáo Lê Xuân T1, Lê Văn H5, Nguyễn Thành Đ1 là người chưa thành niên phạm tội. Tại khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định: “2. Các điều khoản của Luật này quy định về hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, giảm mức hình phạt đã tuyên, án treo, hoãn chấp hành hình phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội quy định tại chương VI của Luật này được áp dụng kể từ ngày Luật này được công bố”.
Luật Tư pháp người chưa thành niên được công bố số: 30/2024/L-CTN ngày 02/12/2024.
Tại Điều 124 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định về án treo như sau: “Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người chưa thành niên phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 03 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự”.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá đã tuyên phạt các bị cáo Lê Xuân T1 22 (Hai mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 44 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Lê Văn H5 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Nguyễn Thành Đ1 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là chưa đúng với quy định của pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá đối với các bị cáo Lê Xuân T1, Lê Văn H5, Nguyễn Thành Đ1 về thời gian thử thách cần được sửa lại.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
[3] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng Điều 124 và khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên: Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá về thời gian thử thách đối với các bị cáo Lê Xuân T1, Lê Văn H5, Nguyễn Thành Đ1 như sau:
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Luật tư pháp người chưa thành niên; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Lê Xuân T1 22 (Hai mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Lê Văn H5 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Thành Đ1 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lê Văn H5, Lê Xuân T1, Nguyễn Thành Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi gửi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Anh |
Bản án số 43/2025/HSPT ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 43/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo
