Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do– Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hứa Thanh Hải;

Ông Phan Hồng Việt.

– Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 745/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Châu Thị Thùy L, sinh năm 1993, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1987, vắng mặt.

Cùng nơi thường trú: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An; cùng nơi tạm trú: Nhà trọ Trần Văn N, số B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Châu Thị Thùy L trình bày:

Bà L và ông H tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số 13/2013, quyển số 01/2013 ngày 28 tháng 01 năm 2013.

Sau khi kết hôn, bà L và ông H sống hạnh phúc với nhau. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng trong cuộc sống hôn nhân, cả hai không tìm

được tiếng nói chung, thường xuyên cải vã nhau, vợ chồng không sống chung một nhà từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà L và ông H có hai con chung là Nguyễn Bảo T, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2013 và Nguyễn Châu Bảo N1 sinh ngày 02 tháng 3 năm 2016. Sau khi ly hôn, bà L đồng ý giao cho ông Nguyễn Thái H trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2013 và cháu Nguyễn Châu Bảo N1 sinh ngày 02 tháng 3 năm 2016.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung số tiền là 1.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà L và ông H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho bị đơn. Theo kết quả xác minh tại Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương: Ông H có đăng ký tạm trú tại nhà trọ Trần Văn N, số B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông H theo hình thức niêm yết công khai tại nơi tạm trú của ông H, Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhưng ông H không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Bà L có đơn xét xử vắng mặt và bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn với ông H; về con chung: Giao 02 con chung là là cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2013 và cháu Nguyễn Châu Bảo N1 sinh ngày 02 tháng 3 năm 2016 cho ông H trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà L cấp dưỡng nuôi mỗi con chung số tiền là 1.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Do các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhận định:

[2] Về tố tụng:

[2.1] Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông H; ông H tạm trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Đối với bị đơn Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, cố tình không đến tham gia phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt bà L và ông H theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Hòa kết H1 vào ngày 28 tháng 01 năm 2013 kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số 13//2013, quyển số 01/2013 ngày 28 tháng 01 năm 2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[3.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông H chính quyền địa phương không nhận thấy mâu thuẫn gì. Tòa án tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập để ông H tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa nhưng ông H vẫn cố tình vắng mặt xem như ông đã từ bỏ quyền trình bày để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cũng chứng tỏ ông H không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Ngoài ra, bà L và ông H không sống chung một nhà từ năm 2019 cho đến nay, vợ chồng không cùng nhau chăm sóc nuôi dạy con và không cùng nhau xây dựng kinh tế, hạnh phúc gia đình như vậy vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau.

[3.3] Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà L đồng ý giao cho ông H trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2013 và cháu Nguyễn Châu Bảo N1 sinh ngày 02 tháng 3 năm 2016. Xét, theo nguyện vọng của hai con đều mong muốn sống chung với ông H. Do đó, để

đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo và công dân có ích cho xã hội nên tiếp tục giao cháu T và cháu N1 cho ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4.1] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung số tiền là 1.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Thị Thùy L đối với bị đơn ông Nguyễn Thái H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Thùy L được ly hôn với ông Nguyễn Thái H.

- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo T, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2013 và cháu Nguyễn Châu Bảo N1 sinh ngày 02 tháng 3 năm 2016 cho ông Nguyễn Thái H trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Châu Thị Thùy L cấp dưỡng nuôi mỗi con chung số tiền là 1.000.000 đồng/tháng/con. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Châu Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005347 ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHÂU THỊ THÙY L- NGUYỄN THÁI H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger