|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HSST Ngày: 26/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Như Lữ
Ông Nguyễn Duy Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần: Phân trại tạm giam khu vực Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn L (không có tên gọi khác), sinh năm: 1994 tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản L, xã L, huyện Đ, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Lò Văn Khơ (sinh năm 1966) và bà Lò Thị Kim (sinh năm 1966); vợ là Tòng Thị Chanh, sinh năm 1995 và có 04 con chung, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2024, tạm giam từ ngày 08/01/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn L: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên,có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 30/12/2024 Lò Văn L một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 27AU-007.37 đi từ nhà đến xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi L đến khu vực bản Cang, xã Chiềng Sơ thì gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 04 cục Heroine được gói trong mảnh nilon màu trắng và 05 viên Methamphetamine được gói trong mảnh nilon màu đỏ với giá 1.100.000 đồng. Mua được ma túy, L cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong túi áo khoác màu đen bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, L cầm số ma túy trên đi đến bản Đại, xã Luân Giói để chơi, khi L đang đi đến khu vực bản Na Lại, xã Luân Giói thì bị tổ công tác Công an xã Háng Lìa phối hợp với Công an xã Luân Giói phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ khi bị bắt quả tang gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa 04 cục nhỏ Heroine, 01 gói nilon màu đỏ bên trong có chứa 05 viên Methamphetamine, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS 27AU-007.37
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng, cân khối lượng, lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số: 35/KL-KTHS, ngày 05/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L là 3,34 gam là chất ma túy loại Heroine, sau giám định hoàn lại 3,26 gam Heroine. Khối lượng 05 viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn L là 0,51 gam là chất ma túy loại Methamphetamine, hoàn lại 0,42 gam Methamphetamine sau giám định.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được hành vi của người đàn ông dân tộc Mông đã đưa ma túy cho bị cáo do không có thông tin cụ thể.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSĐBĐ ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo Lò Văn L về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn L về tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 3,26 gam Heroine còn lại sau giám định, 0,42 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu đỏ; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 27AU-007.37. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, án phí và xử lý vật chứng. Về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất có thể.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo Lò Văn L bị truy tố thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/12/2024; Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Vào ngày 30/12/2024 bị cáo Lò Văn L có hành cất giấu 3,34 gam Heroine và 0,51 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Bản thân bị cáo Lò Văn L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại chất ma túy đối với sức khỏe con người và sự nghiêm cấm của pháp luật nhưng vẫn cố ý mua tàng trữ để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lò Văn L là đúng pháp luật, không oan sai
[2]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Hành vi tàng trữ trái phép 3,34 gam Heroine và 0,51 gam Methamphetamine của bị cáo Lò Văn L là nghiêm trọng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm điều cấm của pháp luật, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo ở mức thấp nhất có thể. Xét đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa.
Hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 3,26 gam Heroine còn lại sau giám định và 0,42 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu đỏ đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc xe máy Wave @ nhãn hiệu Honda, màu xanh mang biển kiểm soát 27AU-007.37, số khung RLHJA 3934PY089096, số máy JA70E0120555, xe cũ đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa xe: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị cáo khai chiếc xe máy trên là tài sản riêng của bị cáo, đăng ký xe đứng tên bị cáo, bị cáo mua từ năm 2023 với giá 18.000.000 đồng, số tiền dùng mua xe do bị cáo đi làm thuê mà có, vợ bị cáo là bà Tòng Thị Chanh không có công sức đóng góp cùng bị cáo mua chiếc xe máy trên vì vợ chồng bị cáo đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy, chiếc xe máy là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được do không có thông tin cụ thể. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò Văn L 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 30/12/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- - Tịch thu, tiêu hủy: 3,26 gam Heroine, 0,42 gam Methamphetamine, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu đỏ.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô loại Wave @ (Theo phiếu trả lời xác minh của Đội CSGT-TT, Công an huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên là Wave @) nhãn hiệu Honda, màu xanh mang biển kiểm soát 27AU-007.37, số khung RLHJA 3934PY089096, số máy JA70E0120555, xe cũ đã qua sử dụng (Kèm theo chìa khóa xe).
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 25/02/2025 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Quang |
Bản án số 43/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 43/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn L
