Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-PT

Ngày 25 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;

Các Thẩm phán: bà Trần Thị Hà và bà Ngọ Thị Thanh Hảo.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 25/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 283/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Tống Văn T bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 và bị cáo Phương Văn C và bị cáo Nguyễn Thị T8 bị xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Tống Văn T, sinh năm 1964 (tên gọi khác không); giới tính: Nam.

Nơi đăng ký HKTT: tổ G, phường T, thành phố B; nơi ở: tổ dân phố M, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: bán vé xổ số; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn M, sinh năm 1939 và bà Ngô Thị T1, sinh năm 1939; vợ: Trần Thị L, sinh năm 1980; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013; gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con cả; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: năm 2015, Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 25/01/2024 thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

2. Họ và tên: Nguyễn Thị T8, sinh năm 1984; (tên gọi khác không); giới tính: Nữ.

Nơi cư trú: số D, ngõ C, đường B, phường L (nay là phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Bố: Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 (đã chết); Mẹ: Thân Thị T2, sinh năm 1958; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ 2; Chồng: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1981 (đã ly hôn). Bị cáo c 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2021/HS-ST ngày 14/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 21/9/2022 và đã được xoá án tích.

Ngày 19/4/2021 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bản án hình sự phúc thẩm số 42/2025/HS-PT ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

3. Họ và tên: Phương Văn C, sinh năm 1966 (tên gọi khác: không); giới tính: Nam.

Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: số nhà D, tổ dân phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lái máy xúc; trình độ học vấn: 9/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phương Đông Đ (đã chết) và bà Phương Thị C1 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1973; bị cáo có 02, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2002; gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là thứ hai; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa cho bị cáo Phương Văn C: Luật sư Hoàng Thị Bích L1 (vắng mặt) và Luật sư Võ Thị An B (có mặt) - Văn phòng L3 – Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: số I, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Trong vụ án còn có những bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 15 phút ngày 16/01/2024, Phòng C3 Công an tỉnh B bắt quả tang Tống Văn T đang thanh toán tiền số đề cho đối tượng tự khai là Nguyễn Thị H3, sinh năm 1990 trú tại tổ dân phố G, phường D, thành phố B và Nguyễn Thị T3, sinh năm 1995 trú tại thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang tại nhà T. Thu giữ của H3 01 tờ vé số lô tô, mặt sau có ghi số, chữ và số và số tiền 1.780.000 đồng. Thu của T3 01 tờ vé số lô tô, mặt sau có ghi số, chữ và số tiền 1.600.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B khám xét khẩn cấp nơi ở của Tống Văn T đã thu giữ: 03 tờ giấy có ghi chữ và số, đánh số thứ tự từ 01 đến 03; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A03S; Số tiền 3.250.000 đồng.

Tống Văn T khai bán số lô, số đề cho Phương Văn C, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Đ1, Vũ Thanh S, Đặng Thị C2, Nguyễn Xuân H4 và nhiều người khác không xác định được tên và địa chỉ. Sau khi bán số lô, số đề cho khách thì T chuyển cáp đề cho Nguyễn Văn T4 để hưởng hoa hồng.

Hồi 22 giờ 15 phút ngày 16/01/2024, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T4 đã thu giữ: 06 tờ giấy A4 hai mặt có ghi chữ và số; 02 quyển sổ bên trong có ghi chữ và số; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus lắp sim số 0347.452.109; 01 điện thoại di động nhãn hiệu I phone 7 Plus lắp sim số 0389.548.382; 01 máy tính màu đen nhãn hiệu Casio; 03 bút mực gồm có bút màu đỏ, màu đen và màu xanh; Số tiền 80.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Văn T4, Phương Văn C, Nguyễn Thị X để làm việc. T4, C, X đầu thú và khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Tống Văn T.

Cơ quan điều tra tạm giữ của Phương Văn C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung lắp sim số 0364.159.066; tạm giữ của Nguyễn Thị X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0971.583.090 và 0967.707.704; tạm giữ của Nguyễn Thị Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0984.928.199.

Ngoài ra, Phương Văn C khai còn mua số lô, số đề của Nguyễn Thị Tuyết . Cơ quan điều tra triệu tập Nguyễn Thị T8 để làm việc thì T8 đầu thú và khai nhận hành vi đánh bạc với C và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0968.675.944 và số 0363.494.818.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của Tống Văn T, Nguyễn Văn T4 trên các tài liệu đã thu giữ.

Kết luận giám định số 181/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng C3 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A5- trừ chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị T3, Dương Văn X1, Nguyễn Thị H3) so với chữ viết của Tống Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M4) là do cùng một người ký, viết ra.
  2. Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A6 đến A9) so với chữ viết của Nguyễn Văn T4 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M5 đến M11) là do cùng một người ký, viết ra.
  3. Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A10, A11 - trừ chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Văn T4) là không phải do Tống Văn T, Nguyễn Văn T4 viết ra.

Kết quả điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị can như sau:

I. Hành vi tổ chức đánh bạc của Tống Văn T:

Tống Văn T bán các số lô, số đề của người chơi rồi chuyển cáp đề cho Nguyễn Văn T4 qua tin nhắn Zalo để hưởng phần trăm hoa hồng; việc thanh toán thắng thua căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày. T4 thoả thuận với T tỷ lệ cá cược và hưởng phần trăm như sau:

  • Dạng lô: Tuất bán cho người chơi là 22.500 đồng/1 điểm lô; chuyển cho T4 là 21.750 đồng/1 điểm, hưởng lợi 750 đồng/1 điểm lô. Nếu người chơi trúng thưởng thì sẽ được nhận 80.000 đồng/1 điểm lô.
  • Dạng đề đặc biệt, nhất to, hai cửa: Tuất thu của khách 80% lượng tiền ghi trên cáp, chuyển cho T4 72,5%, hưởng lợi 7,5%. Nếu người chơi trúng thưởng thì sẽ được nhận gấp 70 lần số tiền đặt cược.
  • Dạng lô xiên (xiên 2, xiên 3, xiên 4): Tuất thu của khách 80% lượng tiền, chuyển cho T4 65%, hưởng lợi 15%. Nếu người chơi trúng thưởng thì sẽ được nhận tương ứng gấp 10 lần, 45 lần, 120 lần số tiền đặt cược.

Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động N, lắp sim số 0977.179.949 và điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A03S tạm giữ của Tống Văn T phát hiện nội dung liên quan đánh bạc, cụ thể:

  • Điện thoại N, lắp sim số 0977.179.xxx: Trong mục tin nhắn đến phát hiện các tin nhắn có số lô, số đề ở các danh bạ có tên “Lo”, “Son Ky”, “Hai Nuoc” và số điện thoại 0389.936.xxx. Trong mục danh bạ có lưu danh bạ tên Thinh H5, có số điện thoại 0389.548.xxx.
  • Điện thoại S1 A03S: Trong mục tin nhắn đến có các tin nhắn có số lô, số đề ở các danh bạ có tên “buu dien”, “binh hoa”, “ly”. Trong mục Zalo phát hiện các tin nhắn có số lô, số đề ở các tài khoản có tên “A H6”, “Dong Duong”, “Zo Bin Son”, “Mộc Bảo”, “Xuân Laydy”, “cuong dao".

Tống Văn T là thư ký đề và chuyển cáp đề cho Nguyễn Văn T4. Hàng ngày, T ghi các số lô, số đề của khách vào mặt sau tờ vé số lô tô hoặc sử dụng điện thoại di động N, lắp sim số 0977.179.947 và tài khoản zalo “Ttttt” đăng ký bằng số điện thoại 0344.707.xxx trên điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A03S nhận các số lô, số đề của người chơi. Sau đó, T ghi các số lô, số đề đã nhận qua tin nhắn SMS và các số lô, số đề đã ghi vào tờ vé số lô tô vào tờ giấy A4 rồi dùng điện thoại chụp ảnh gửi cho T4 hoặc chuyển các số lô, số đề đã nhận của người chơi đến tài khoản zalo “Nguyễn Hoa” của T4.

Kết quả điều tra xác định T đã tổ chức đánh bạc trong 07 ngày trong đó có 6 ngày số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng (04 ngày số tiền trên 20.000.000 đồng). Tổng số tiền T ghi số lô, số đề cho khách và chuyển cho T4 là 193.766.250 đồng, được hưởng phần trăm là 6.115.950 đồng, cụ thể:

  1. Hồi 17 giờ 26 phút ngày 07/7/2023, Phương Văn C sử dụng tài khoản zalo “Phuongcuong” đăng ký bằng số điện thoại 0364.159.xxx nhắn tin đến tài khoản zalo “Ttttt” của T để mua số lô 63 là 500 điểm = 11.250.000 đồng; cặp lô xiên 3 (63, 12, 56) = 900.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T là 12.150.000 đồng, không trúng thưởng.
  2. Số tiền Tuất đánh bạc với C là 12.150.000 đồng. C bị thua 12.150.000 đồng, đã thanh toán với nhau.

    Số tiền Tuất đánh bạc với T4 12.150.000 đồng, đã thanh toán với nhau. Tuất được hưởng phần trăm là 510.000 đồng.

  3. Hồi 16 giờ 45 phút ngày 08/7/2023, T bán cho Phương Văn C số lô 07 là 500 điểm = 11.250.000 đồng; cặp lô xiên 3 (07, 10, 68) = 900.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T là 12.150.000 đồng. C sử dụng tài khoản ngân hàng M1 số 6950115061966 mang tên C chuyển 15.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng A số 2501205207051 mang tên Trần Thị Lý do T5 sử dụng. Cương trúng số lô 07 được 40.000.000 đồng. Cương thắng 27.850.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  4. Số tiền Tuất đánh bạc với C là 52.150.000 đồng.

    Số tiền Tuất đánh bạc với T4 là 52.150.000 đồng, đã thanh toán với nhau. Tuất được hưởng phần trăm là 510.000 đồng.

  5. Hồi 17 giờ 51 phút ngày 27/9/2023, Nguyễn Thị X sử dụng tài khoản zalo “Xuân Laydy” đăng ký bằng số điện thoại 0967.707.xxx nhắn tin đến tài khoản zalo “Ttttt” của T5 để mua các số lô, số đề sau:
    • Dạng đề đặc biệt gồm các số 66, 03, 30, 18, 81, 68, 86, 08, 80, 08, 33, 38, 83, 04, 40, 45, 54, 59, 95, 09, 90, 49, 94, 39, 93, 11, 51, 52, 38, 83, 13, 31, 86, 68, 89, 98, 84, 48, 14, 41, 75, 57, 19, 91, 17, 71, 65, 56, 88, 83, 38, 84, 48, 87, 78, 18, 81, 28, 82, 37, 73, 05, 50, 47, 74, 08, 80, 58, 85, 53, 35, 03, 30 với tổng số tiền là 2.180.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số, X trúng số đề 47 được 1.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 3.580.000 đồng.
    • Dạng đề nhất to gồm các số 37, 73, 05, 50, 47, 74, 08, 80, 58, 85, 53, 35, 03, 30 với tổng số tiền là 330.000 đồng. X không trúng thưởng.
    • Dạng đề nhân hai cửa gồm các số 48, 84, 78, 04, 40, 24, 42, 22, 24, 42, 22, 04, 40, 00, 02, 20,19, 91, 67, 76, 44, 94, 24, 42, 02, 20 với tổng số tiền là 1.240.000 đồng. X không trúng thưởng.
    • Dạng lô gồm các số 55, 04, 40, 32, 11, 51, 15, 25, 04, 40, 30, 03, 08, 80, 23, 55 với tổng số là 185 điểm = 4.162.500 đồng. Sau khi có kết quả xổ số, X trúng các số lô 11, 30, 08, 23 với tổng số là 35 điểm = 2.800.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 6.962.500 (tiền mua số lô là 4.162.500 đồng, trúng thưởng là 2.800.000 đồng).
    • Dạng lô xiên gồm các cặp số (89, 98, 72), (93, 19, 67), (30, 90); xiên quay (04, 62, 42, 22) gồm các cặp số (04, 62), (04, 42), (04, 22), (62, 42), (62, 22), (42, 22), (04, 62, 42), (04, 62, 22), (04, 42, 22), (62, 42, 22), (04, 62, 42, 22); (94, 82, 93, 19) gồm các cặp số (94, 82), (94, 93), (94, 19), (82, 93), (82, 19), (93, 19), (94, 82, 93), (94, 82, 19), (94, 93, 19), (82, 93, 19), (94, 82, 93, 19); (94, 19, 91, 76) gồm các cặp số (94, 19), (94, 91), (94, 76), (19, 91), (19, 76), (91, 76), (94, 19, 91), (94, 19, 76), (94, 91, 76), (19, 91, 76), (94, 19, 91, 76) với tổng số tiền là 790.000 đồng. X không trúng thưởng.

    Số tiền Tuất đánh bạc với X là 12.902.500 đồng. X bị thua 1.777.500 đồng, chưa thanh toán với nhau.

    Số tiền Tuất đánh bạc với T4 là 12.902.500 đồng, đã thanh toán với nhau. Tuất được hưởng phần trăm là 538.500 đồng.

  6. Hồi 10 giờ 17 phút ngày 28/9/2023, Nguyễn Thị X sử dụng tài khoản zalo “Xuân L2” nhắn tin đến tài khoản zalo “Ttttt” của T5 để mua các số lô, số đề như sau:
    • Dạng đề đặc biệt gồm các số 15, 51,19, 91, 06, 60, 16, 61, 71, 76, 46, 64, 67, 76, 33, 88, 38, 83 với tổng số tiền là 790.000 đồng.
    • Dạng đề nhất to gồm các số 19, 91, 46, 64, 67, 76 với số tiền là 140.000 đồng.
    • Dạng đề nhân hai cửa gồm các số số 17, 67, 03, 26, 62, 25, 52, 57, 75, 68, 86, 04, 40, 23, 32 với tổng số tiền là 610.000 đồng.
    • Dạng lô gồm các số 27, 44, 74, 67, 76 với tổng số 90 điểm = 2.025.000 đồng.
    • Dạng lô xiên gồm các cặp số (64, 57, 19); xiên quay (67, 32, 57, 46) gồm các cặp số (67, 32), (67, 57), (67, 46), (32, 57), (32, 46), (57, 46), (67, 32, 57), (67, 32, 46), (67, 57, 46), (32, 57, 46), (67, 32, 57, 46) với tổng số tiền là 320.000 đồng.

    Số tiền Tuất đánh bạc với X là 3.885.000 đồng. X không trúng thưởng và bị thua 3.885.000 đồng, chưa thanh toán với nhau.

    Số tiền Tuất đánh bạc với T4 là 3.885.000 đồng, đã thanh toán với nhau. Tuất được hưởng phần trăm là 231.000 đồng.

  7. Hồi 17 giờ 54 phút ngày 14/01/2024, người sử dụng tài khoản zalo “Zo Bin Son” nhắn tin đến tài khoản zalo “Ttttt” của T5 để mua các số lô, số đề như sau:
    • Dạng đề đặc biệt gồm các số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 04, 14, 24, 34, 54, 64, 74, 84, 94, 59, 09 với tổng số tiền là 440.000 đồng.
    • Dạng đề nhất to gồm các số 22, 23, 25, 26, 27, 52, 53, 55, 56, 57, 24, 54, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 72, 73, 74, 75, 76, 77 với tổng số tiền là 460.000 đồng.

    Số tiền Tuất đánh bạc với người có tài khoản zalo “Zo Bin Son” là 900.000 đồng, người chơi không trúng thưởng.

    Ngoài ra T5 còn bán số lô, số đề cho nhiều người không xác định, so sánh với kết quả xổ số mở thưởng cùng ngày số tiền đánh bạc là 25.602.500 đồng.

    Tổng số tiền T5 đánh bạc với những người chơi là 26.502.500 đồng. Tuất và những người chơi đã thanh toán với nhau.

    Số tiền Tuất đánh bạc với T4 là 26.502.500 đồng, chưa thanh với nhau. Tuất được hưởng phần trăm là 1.348.125 đồng.

  8. Hồi 17 giờ 52 phút ngày 15/01/2024, T5 bán cho người tên T6 sử dụng số điện thoại 0916.211.xxx lưu danh bạ là “buu dien” số đề đặc biệt 07 = 60.000 đồng. T6 không trúng thưởng.
  9. Hồi 17 giờ 48 phút ngày 15/01/2024, người sử dụng tài khoản zalo “Zo Bin Son” nhắn tin đến tài khoản zalo “Ttttt” của T5 để mua các số đề nhất to gồm 22, 23, 25, 26, 27, 52, 53, 55, 56, 57, 24, 54, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 72, 73, 74, 75, 76, 77 với tổng số tiền là 720.000 đồng. Người chơi không trúng thưởng.

    Ngoài ra T5 còn bán số lô, số đề cho nhiều người không xác định, so sánh với kết quả xổ số mở thưởng cùng ngày số tiền đánh bạc là 56.279.500 đồng.

    Tổng số tiền T5 đánh bạc với những người chơi là 57.059.500 đồng, đã thanh toán với nhau.

    Số tiền Tuất đánh bạc với T4 là 57.059.500 đồng, chưa thanh toán với nhau. Tuất được hưởng phần trăm là 1.656.900 đồng.

  10. Ngày 16/01/2024:
    • Tuất bán cho Nguyễn Thị T3 các số lô 63, 66, 15, 91, 65, 56, 94, 49, 68, 86, 88, 58, 85, 35 mỗi số 05 điểm = 1.575.000 đồng; cặp lô xiên 4 (83, 88, 56, 66) = 300.000 đồng; đặc biệt số 88 = 500.000 đồng. Tổng số tiền T3 mua số lô, số đề của T5 là 2.375.000 đồng. T3 trúng các số lô 15, 58, 63 được tổng số tiền 1.600.000 đồng. Tổng số tiền T5 đánh bạc với T3 là 3.975.000 đồng.
    • Tuất bán cho Nguyễn Thị H3 các số lô 26, 62, 36, 66, 51, 15, 19, 91, 23, 32, 79, 97, 69, 96, 94 mỗi số 05 điểm = 1.687.500 đồng; cặp lô xiên 4 (97; 39; 62; 83) = 200.000 đồng; ba càng số 488 = 300.000 đồng. Tổng số tiền H3 mua số lô, số đề của T5 là 2.187.500 đồng. H3 trúng các số lô 15, 23, 36, 97 được tổng số tiền 2.000.000 đồng. Tổng số tiền T5 đánh bạc với H3 là 4.187.500 đồng.
    • Tuất bán cho Nguyễn Thị Đ1 số lô 82 là 30 điểm = 675.000 đồng. Đông không trúng thưởng.
    • Tuất bán cho Vũ Thanh S các số đề 07 = 300.000 đồng, số 06 = 100.000 đồng, các số 19, 73, 74, 90, 91 mỗi số = 40.000 đồng; các số lô 51, 66, 80, 92 mỗi số là 5 điểm = 450.000 đồng; các số lô xiên (51, 66, 80) = 60.000 đồng, (07, 51, 66, 80) = 50.000 đồng, (51, 66, 80, 88) = 50.000 đồng. Tổng số tiền S mua số lô, số đề của T5 là 1.210.000 đồng. S trúng số lô 92 được số tiền 800.000 đồng. Tổng số tiền T5 đánh bạc với S là 2.010.000 đồng.
    • T7 bán cho Đặng Thị C2 số lô 77 là 20 điểm = 450.000 đồng, số đề đặc biệt 77 = 50.000 đồng. Tổng số tiền C2 mua số lô, số đề của T7 là 500.000 đồng. Chín không trúng thưởng
    • Tuất bán cho Nguyễn Xuân H4 các số lô 57, 46 mỗi số là 100 điểm = 4.500.000 đồng. Hóa không trúng thưởng.
    • T7 bán cho người tên T6, sử dụng số điện thoại 0916.211.xxx lưu danh bạ là “buu dien” số lô 07 là 10 điểm = 225.000 đồng. T6 trúng số lô 07 được 800.000 đồng. Tổng số tiền T5 đánh bạc với T6 là 1.025.000 đồng.
    • Tuất bán cho người tên H7, sử dụng số điện thoại 0983.850.xxx, lưu danh bạ là “Hai Nuoc” các số đề đặc biệt, nhất to với số tiền là 400.000 đồng. H7 không trúng thưởng.
    • Tuất bán cho người tên H6, sử dụng số điện thoại 0984.799.xxx, lưu danh bạ là “binh hoa” các số đề đặc biệt, số đề nhất to, số lô với số tiền là 742.500 đồng. H6 không trúng thưởng
    • T5 bán cho người có tài khoản zalo “Zo Bin Son” các số đề nhất to với số tiền là 1.520.000 đồng. Người chơi không trúng thưởng.

    Ngoài ra T5 còn bán số lô, số đề cho nhiều người không xác định, so sánh với kết quả xổ số mở thưởng cùng ngày số tiền đánh bạc xác định là 9.581.750 đồng.

    Tổng số tiền T5 đánh bạc là 29.116.750 đồng. Tuất và T3, H3 đã thanh toán với nhau, còn những người chơi khác chưa thanh toán.

    Số tiền Tuất đánh bạc với T4 là 29.116.750 đồng, chưa thanh toán với nhau. Tuất được hưởng phần trăm là 1.321.425 đồng.

II. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Tuyết

Nguyễn Thị Tuyết sử dụng tài khoản zalo “Mèo Con” đăng ký bằng số điện thoại 0363.494.xxx nhận các tin nhắn đánh bạc với khách. Khi khách nhắn tin mua các số lô, số đề nếu đồng ý nhận thì T8 sẽ ấn vào nút thả tim hoặc nhắn tín trả lời lại 1,2... tức là đồng ý. T8 tự giữ lại cáp đề và trực tiếp thanh toán với khách. T8 sử dụng tài khoản ngân hàng T9 số 19033459186014 mang tên Nguyễn Thị T8 để thanh toán tiền đánh bạc với khách. Kết quả điều tra xác định T8 đánh bạc trong 10 ngày trong đó có 9 ngày số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên (03 ngày số tiền trên 50.000.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc là 362.500.000 đồng, cụ thể như sau:

1. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị T8 với Phương Văn C:

  1. Ngày 23/12/2023, C mua của T8 số lô 25 là 500 điểm = 11.250.000 đồng; cặp lô xiên 3 (25, 48, 38) = 800.000 đồng. Số tiền C mua số lô là 12.050.000 đồng, không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 12.050.000 đồng. C bị thua 12.050.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  2. Ngày 24/12/2023, C mua của T8 các số lô 07 là 250 điểm = 5.625.000 đồng, số lô 25 là 250 điểm = 5.625.000 đồng; cặp lô xiên 3 (07, 25, 54) = 500.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T8 là 11.750.000 đồng, không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 11.750.000 đồng. C bị thua 11.750.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  3. Ngày 05/01/2024, C mua của T8 số lô 03 là 600 điểm = 13.500.000 đồng, số lô 91 là 400 điểm = 9.000.000 đồng; cặp lô xiên 3 (03, 91, 81) = 800.000 đồng; số đề bặc biệt 14 = 400.000 đồng; số đề nhất to 14 = 800.000 đồng. Số tiền C mua số lô, số đề của T8 là 24.500.000 đồng, không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 24.500.000 đồng. C bị thua 24.500.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  4. Ngày 06/01/2024, C mua của T8 số lô 03 là 700 điểm = 15.750.000 đồng, số lô 91 là 800 điểm = 18.000.000 đồng; cặp lô xiên 3 (91, 03, 81) = 900.000 đồng; cặp lô xiên 3 (91, 03, 88) = 700.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T8 là 35.350.000 đồng. Cương trúng số lô 03 được số tiền 112.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 147.350.000 đồng. Cương thắng 76.650.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  5. Ngày 07/01/2024, C mua của T8 số lô 16 là 800 điểm = 18.000.000 đồng, số lô 60 là 700 điểm = 15.750.000 đồng; cặp lô xiên 3 (16, 60, 29) = 900.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T8 là 34.650.000 đồng, không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 34.650.000 đồng. C bị thua 34.650.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  6. Ngày 08/01/2024, C mua của T8 số lô 60 là 500 điểm = 11.250.000 đồng, số lô 56 là 500 điểm = 11.250.000 đồng; cặp lô xiên 3 (60, 56, 83) = 900.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T8 là 23.400.000 đồng. Cương trúng số lô 56 được số tiền 40.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 63.400.000 đồng. Cương thắng 16.600.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  7. Ngày 09/01/2024, C mua số lô 16 là 500 điểm = 11.250.000 đồng, số lô 62 là 500 điểm = 11.250.000 đồng; cặp lô xiên 3 (16, 62, 72) = 600.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T8 là 23.100.000 đồng. Cương trúng số lô 62 được số tiền 40.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 63.100.000 đồng. Cương thắng 16.900.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  8. Ngày 10/01/2024, C mua cua T8 số lô 48 là 500 điểm = 11.250.000 đồng, số lô 35 là 500 điểm = 11.250.000 đồng; cặp lô xiên 3 (48, 35, 90) = 600.000 đồng; các số đề đặc biệt 53 = 300.000 đồng, số 35 = 200.000 đồng; số đề nhất to 53 = 600.000 đồng, số đề nhất tô 35 = 200.000 đồng. Số tiền C mua số lô, số đề của T8 là 24.400.000 đồng, không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 24.400.000 đồng. C bị thua 24.400.000 đồng, đã thanh toán với nhau.
  9. Ngày 18/01/2024, C mua của T8 số lô 62 là 100 điểm = 2.250.000 đồng, số lô 54 là 100 điểm = 2.250.000 đồng; cặp lô xiên 3 (62 54 49) = 600.000 đồng. Số tiền C mua số lô của T8 là 5.100.000 đồng, không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 5.100.000 đồng. C bị thua 5.100.000 đồng và còn nợ 1.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã sao kê tài khoản ngân hàng mang tên Nguyễn Thị T8 phát hiện có giao dịch liên quan đến việc chuyển tiền nêu trên (bút lục 212-214)

2. Hành vi đánh bạc của T8 với người có tài khoản zalo “Hoan Duong" ngày 19/01/2024:

Ngày 19/01/2024, T8 bán cho người có tài khoản zalo “Hoan Duong” số đề đặc biệt 64 = 1.200.000 đồng. Người chơi không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc là 1.200.000 đồng. T8 và người chơi đã thanh toán với nhau.

Đối với hành vi đánh bạc này của Nguyễn Thị T8 với số tiền 1.200.000 đồng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt hành chính.

IV. Hành vi đánh bạc của Phương Văn Cương

Phương Văn Cương trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Thị T8 và Tống Văn T tổng số 11 ngày. Trong đó:

  1. Phương Văn C đánh bạc với Tống Văn T trong 2 ngày gồm ngày 07/7/2023 có số tiền đánh bạc là 12.150.000 đồng và ngày 08/7/2023 có số tiền đánh bạc là 52.150.000 đồng.
  2. Phương Văn C đánh bạc với Nguyễn Thị T8 trong 9 ngày gồm 23+24/12/2023; liên tiếp từ ngày 05/01/2024 đến ngày 10/01/2024 và ngày 18/01/2024; số tiền đánh bạc mỗi ngày đều từ 5.000.000 đồng trở lên (trong đó có 03 ngày có số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng).

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 190/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Tống Văn T 01 (Một) năm 02 (H8) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 17/01/2024 đến ngày 25/01/2024).
  2. Phạt bổ sung 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

  3. Áp dụng điểm b khoản 2, 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T8 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

  5. Áp dụng điểm b khoản 2, 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phương Văn C 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  6. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, quyết định về xử lý vật chứng, tiền truy thu, án phí; quyền kháng cáo của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 01/10/2024, bị cáo Tống Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 30/9/2024, bị cáo Phương Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo và giảm số tiền bị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Ngày 01/10/2024, bị cáo Nguyễn Thị T8 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù và hình phạt tiền.

Tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo Tống Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ; bị cáo Phương Văn C xin rút kháng cáo giảm số tiền bị tịch thu sung quỹ Nhà nước, giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; bị cáo Nguyễn Thị T8 xin rút kháng cáo giảm hình phạt tiền, giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS: không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị T8, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Tống Văn T và Phương văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Tống Văn T 01 (Một) năm 02 (H8) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 17/01/2024 đến ngày 25/01/2024). Phạt bổ sung 20.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ tiền phạt bổ sung trên.

Căn cứ điểm b khoản 2, 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T8 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ điểm b khoản 2, 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Phương Văn C 03 (Ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị T8, Phương Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hính sự phúc thẩm, bị cáo Tống Văn T được miễn án phí hình sự phúc thẩm do là người cao tuổi.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Luật sư B bào chữa cho bị cáo C tranh luận: tại cấp phúc thẩm bị cáo C có cung cấp các tài liệu gồm: xác nhận của Công an thành phố B về việc bị cáo C đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, bị cáo đã nộp tiền phạt và án phí sơ thẩm, có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến sỹ vẻ vang, bản thân tham gia chiến dịch bảo vệ biên giới tại Cao Bằng, tham gia ủng hộ nạn nhân chất độc gia cam 2.000.000 đồng là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX phúc thẩm cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Kiểm sát viên đối đáp : bị cáo C đánh bạc tổng 11 ngày với số tiền 450.600.000 đồng, 04 lần trên 50.000.000 đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 321 BLHS thì nếu đánh bạc trị giá từ 50.000.000 đồng trở lên thì bị xử phạt từ 03 năm đến 07 năm tù. Vì vậy mức hình phạt đối với bị cáo và các bị cáo T8, T theo bản án sơ thẩm là nhẹ, mặc dù cấp phúc thẩm bị cáo C và các bị cáo khác đều có tình tiết giảm nhẹ mới nhưng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Không ai tranh luận gì thêm

Các bị cáo lời sau cùng: các bị cáo không có ý kiến, đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh, HĐXX thấy:

Tống Văn T là thư ký đề, ghi số lô, số đề cho khách và chuyển cáp đề cho Nguyễn Văn T4 để hưởng phần trăm hoa hồng. Tuất đã tổ chức đánh bạc trong 07 ngày với tổng số tiền là 193.766.250 đồng (có 04 ngày có số tiền đánh bạc từ 20.000.000 đồng trở lên). Số tiền thu lời bất chính là 6.115.950 đồng.

Phương Văn C đánh bạc tổng số 11 ngày. Trong đó đánh bạc với Tống Văn T trong 02 ngày với tổng số tiền là 64.300.000 đồng (có 01 ngày có số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng). Cương thắng 15.700.000 đồng, đã thanh toán với nhau. Ngoài ra, C còn đánh bạc với T8 trong 9 ngày với tổng số tiền là 386.300.000 đồng (có 03 ngày có số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng). C bị thua 2.300.000 đồng, đã thanh toán với nhau.

Nguyễn Thị T8 đánh bạc với Phương Văn C trong 09 ngày với tổng số tiền là 386.300.000 đồng (có 03 ngày số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng). Số tiền T8 thu lời bất chính là 3.500.000 đồng, đã thanh toán với nhau.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Các bị cáo là người đủ tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2024/HS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử đối với bị cáo T về tội “Tổ chức đánh bạc" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và xét xử đối với bị cáo C, bị cáo tuyết về tội “Đánh bạc” điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân: bị cáo T8 và bị cáo T có nhân thân xấu, bị cáo T8 ngày 14/7/2021 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”; ngày 19/4/2021 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; ngày 19/03/2025 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Bị cáo T năm 2015 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

[4] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Tống Văn T nhiều lần tổ chức đánh bạc; bị cáo Nguyễn Thị T8 và Phương Văn C nhiều lần đánh bạc. Đây là tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự các bị cáo phải chịu theo quy định điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo T, T8, C đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo C, T8 đã đến Cơ quan điều tra đầu thú; bố bị cáo T, bố bị cáo C là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương; Bị cáo Tuất trước khi xét xử sơ thẩm đã tự nguyện nộp một khoản tiền để tự nguyện thi hành án là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ này cho các bị cáo khi quyết định hình phạt là có căn cứ. Tuy nhiên xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Tống Văn T 01 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T8 03 năm 02 tháng tù và xử phạt bị cáo Phương Văn C 03 năm tù đều về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của BLHS là nhẹ, không nghiêm.

[6] Xét kháng cáo của các bị cáo, HĐXX thấy: tại cấp phúc thẩm bị cáo C, bị cáo T8 tự nguyện nộp 10.200.000 đồng, bị cáo T tự nguyện nộp 20.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo C có xác nhận của Công an thành phố B về việc tích cực cung cấp thông tin cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện tội phạm và cung cấp huân chương chiến sỹ vẻ vang của bố đẻ, bản thân bị cáo có thời gian làm nhiệm vụ tại biên giới phía bắc và ủng hộ 2.000.000 đồng cho Hội nạn nhân chất độc da cam. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm t khoản, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T nhiều ngày tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc (trong đó có 04 ngày trên 20.000.000 đồng); các bị cáo T8, C đều tham gia đánh bạc trong nhiều ngày với số tiền trên 300.000.000 đồng, nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Tống Văn T 01 năm 02 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T8 03 năm 02 tháng tù và xử phạt bị cáo Phương Văn C 03 năm tù đều về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của BLHS ở mức khởi điểm, đầu khung hình phạt bị kết án là nhẹ so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Vì vậy mặc dù tại cấp phúc thẩm các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ mới nhưng HĐXX phúc thẩm thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Từ nhận định trên thấy có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa, không có căn cứ chấp nhận đề nghị của Luật sư B bào chữa cho bị cáo C.

[7] Đối với kháng cáo xin giảm mức tiền phạt của bị cáo T8 và kháng cáo xin giảm số tiền bị tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo C. Tại phiên tòa các bị cáo đã tự nguyện rút nội dung kháng cáo này nên HĐXX phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các kháng cáo này theo quy định tại khoản 3 Điều 342 của Bộ luật tố tụng hình sự. Quyết định về nội dung này của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

[8] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS: không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Thị T8, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Tống Văn T, Phương Văn C. Giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

[9]. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Phương Văn C, Nguyễn Thị T8 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Phương Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do là người cao tuổi.

[10]. Các quyết định khác của án sơ thầm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đông xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS, xử: không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo của các bị cáo Tống Văn T, Phương Văn C; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết . Giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
  2. Căn cứ điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Tống Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 17/01/2024 đến ngày 25/01/2024). Phạt bổ sung 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo Biên lai thu tiền số 0001372 ngày 09/12/2024. Hoàn trả bị cáo 200.000 đồng tiền tạm nộp theo Biên lai thu số 0001382 ngày 02/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

    Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị T8 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0001371 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt 08 (tám) tháng tù của bản án hình sự phúc thẩm số 42/HS-PT ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Buộc bị cáo Nguyễn Thị T8 phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 14/12/2023 đến ngày 20/12/2023).

    Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phương Văn C 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo 10.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0001369 ngày 02/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

  3. Án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Thị T8, Phương Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Bị cáo Tống Văn T được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thấm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 43/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger