Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHỤNG HIỆP

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 43/2025/DS-ST

Ngày: 20 – 3 – 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín

dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP,

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Quyến

Ông Nguyễn Thế Tự

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 277/2024/TLST-DS, ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST–DS, ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QÐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C.

Địa chỉ: số A, phố L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lý Ngọc H, Chức vụ Giám đốc Ngân hàng chính sách xã hội Phòng giao dịch huyện C, tỉnh Hậu Giang (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Phạm Thanh T1 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

3.2. Anh Nguyễn Hoài T2 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

3.3. Anh Nguyễn Văn Hoài N1 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn Ngân hàng C có người đại diện ủy quyền ông Lý Ngọc H trình bày:

Ngày 21/5/2018 Ngân hàng C– Phòng giao dịch huyện C, tỉnh Hậu Giang có cho ông Nguyễn Văn N vay vốn theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và sổ vay vốn có mã món vay là 6600000712848834, mục đích vay để trồng Cam, số tiền vay là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), lãi suất cho vay 9%/năm cố định trong thời gian vay, lãi suất quá hạn 130% lãi suất cho vay trong hạn, thời hạn vay là 60 tháng. Phương thức trả nợ gốc 12 tháng/lần và lãi suất định kỳ vào ngày 21 hàng tháng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Cho vay không có tài sản bảo đảm. Từ khi vay tiền, ông Nguyễn Văn N chỉ thanh toán cho Ngân hàng C xã hội được số tiền lãi là 2.109.700 đồng. Từ ngày 21/5/2023 ông Nguyễn Văn N đã không thanh toán nợ đúng hạn theo thoả thuận với ngân hàng nên ngân hàng đã chuyển dư nợ vay của ông Nguyễn Văn N sang nợ quá hạn.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2024 Ngân hàng C yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn Nguyễn Văn N trả số tiền còn nợ là 47.984.629 đồng (gồm gốc là 30.000.000 đồng, lãi là 19.984.629 đồng) và số tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt nợ

Bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh T1, Nguyễn Hoài T2, Nguyễn Văn Hoài N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C đối với bị đơn Nguyễn Văn N. Buộc bị đơn Nguyễn Văn N trả cho nguyên đơn Ngân hàng C số tiền vốn 30.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng đã ký kết.

Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục:

[1.1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội có người đại diện ủy quyền ông Lý Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh T1, Nguyễn Hoài T2, Nguyễn Văn Hoài N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, căn cứ Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Ngân hàng C và ông Nguyễn Văn N có thỏa thuận vay tiền với nhau. Căn cứ vào sổ vay vốn, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 09/5/2018 và sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay, thu nợ, dư nợ có mã món vay số 6600000712848834 thì Ngân hàng C đã giải ngân cho ông Nguyễn Văn N với số tiền vốn là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Sau khi nhận nợ ông Nguyễn Văn N chỉ trả số tiền lãi được 2.109.700 đồng thì ngưng không trả nữa.

Do ông Nguyễn Văn N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng C yêu cầu phải trả số tiền vay còn nợ là phù hợp theo quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu tính lãi của Ngân hàng C thấy rằng: Theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đã ký kết các bên thỏa thuận lãi suất cho vay là 9%/năm. Do ông Nguyễn Văn N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng C yêu cầu ông Nguyễn Văn N phải trả lãi theo như thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận vay tiền của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan. Ông Nguyễn Văn N đã vay tiền của Ngân hàng C thì phải có nghĩa vụ trả tiền vay cho Ngân hàng theo như thỏa thuận. Vì vậy, Ngân hàng C yêu cầu ông Nguyễn Văn N trả số tiền vay còn nợ tạm tính đến ngày 20/3/2025 tổng cộng là 47.831.095 đồng (trong đó nợ gốc là 30.000.000 đồng, lãi là 17.831.095 đồng), yêu cầu tiếp tục tính lãi suất cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ chấp nhận.

[3]. Về án phí: Căn cứ 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[4]. Từ những nhận định nêu trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQHĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C đối với bị đơn Nguyễn Văn N.

Buộc bị đơn Nguyễn Văn N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C số tiền vay còn nợ 47.831.095 đồng (trong đó nợ gốc là 30.000.000 đồng, lãi là 17.831.095 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Nguyễn Văn N phải nộp 2.391.554 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Phụng Hiệp;
  • - Chi cục THADS huyện Phụng Hiệp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lữ Thành Đồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/DS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 43/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NHCS-Ng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger