|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 18/3/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Thanh, bà Đoàn Thị Thúy.
- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phùng Duy Hưng, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 28/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 6/3/2025 đối với bị cáo:
Đoàn Thu Thùy L, sinh ngày 27 tháng 12 năm 1988 tại quận H, thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: Số C, hẻm B Ngõ Q, phố T, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Ngõ G, phố V, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Duy H và bà Nguyễn Thị Bích N; bị cáo chưa có chồng; tiền sự: không; bị cáo có 02 tiền án: Ngày 27/6/2012, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2014); Ngày 29/9/2016, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (hành vi thực hiện ngày 02/01/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/3/2019, chưa chấp hành xong các khoản án phí và bồi thường dân sự); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, tổ công tác Công an phường C làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La bắt quả tang Đoàn Thu Thùy L có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bơm tiêm loại 3ml, bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 gói nilon màu trắng, bên trong có cục, bột màu trắng (L lấy từ trong túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc ra nộp, khai nhận là ma túy Heroine của L cất giữ để sử dụng).
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng. Kết quả cân tịnh: Chất bột màu trắng trong bơm kim tiêm có khối lượng 0,21 gam. Lấy 0,12 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu G1. Còn lại 0,09 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu L1; số cục bột màu trắng trong túi nilon có khối lượng 1,04 gam. Lấy 0,17 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu G2. Còn lại 0,87 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu L2.
Tại Kết luận giám định số 66/KL-KTHS ngày 23/12/2024, Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu G1, G2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định là G1= 0,12 gam; G2=0,17 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,25 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Trong quá trình điều tra, Đoàn Thu Thùy L khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 19/12/2024, Đoàn Thu Thùy L bắt xe ôm không quen biết đi từ nhà ở ngõ G, phố V, phường V, quận H đến khu vực gầm cầu vượt T, thành phố Hà Nội thì xuống xe, đi bộ đến điểm đón xe khách để đi thành phố S thăm bạn. Khi đi được một đoạn thì L gặp, mua của một nam giới không rõ tên tuổi địa chỉ 01 gói Heroine và 01 bơm kim tiêm loại 3ml với số tiền 610.000 đồng. L lấy một phần ma túy trong gói nilon đổ vào bơm kim tiêm, phần còn lại để nguyên trong túi, L cất toàn bộ số ma túy vào túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc, tiếp tục đi bộ đón xe khách đến thành phố S, L không nhớ biển số xe khách. Ngày 20/12/2024, khi đến khu vực đường D thuộc bản C, phường C, thành phố S, L xuống xe đi bộ về hướng Trại tạm giam thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với người bán ma túy, L khai không biết họ tên, địa chỉ. Ngoài lời khai của L không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKSTP ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Đoàn Thu Thùy L về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đoàn Thu Thùy L từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 túi nilon màu trắng; 01 bơm kim tiêm loại 3ml; mẫu lưu L1, L2 có tổng khối lượng 0,96 gam.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến. Do vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 20/12/2024, Đoàn Thu Thùy L thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy 1,25 gam Heroine để sử dụng. Hành vi của bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo có 02 lần bị kết án năm 2012 và 2016 về các hành vi phạm tội do cố ý, chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Đoàn Thu Thùy L về tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng mẫu lưu kho chất ma túy còn lại sau khi giám định và các đồ vật liên quan, không còn giá trị sử dụng.
[5] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thu Thùy L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Đoàn Thu Thùy L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, giấy niêm phong số 086297. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Đoàn Thu Thùy L, SN: 1988 - Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 20/12/2024. Gồm: 01 túi nilon màu trắng; 01 bơm kim tiêm loại 3ml; mẫu lưu L1, L2 có tổng khối lượng 0,96 gam”.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Đoàn Thu Thùy L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thu Thùy L
