Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 14 - 3 -2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Vũ Vương.

Bà Nguyễn Thị Xuân Phương.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thi Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/HSST ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đinh Văn T, sinh năm 2002 tại tỉnh Ninh Bình; Đăng ký thường trú: Thôn N, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn H và bà Trần Thị T1; Vợ: Hà Thị Thùy L; tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/12/2021, UBND xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp quản lý giáo dục tại xã phường thời hạn 3 tháng (đã hết thời hiệu); Ngày 18/12/2023, Công an xã G, tỉnh Ninh Bình xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa hết thời hiệu). D chỉ bản số: 653 ngày 26/11/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến tại trại giam S - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Phạm Hoàng T2, sinh năm 2002 tại tỉnh Nam Định; Đăng ký thường trú: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nơi ở: 5 ngách D T, phường T, quận C, TP .; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Q và bà Phạm Thị X; Vợ: Lù Thị G; Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự:

2/8

Không. D chỉ bản số: 178 ngày 22/03/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội. Bị cáo đầu thú bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/03/2024 đến nay tại trại giam S1 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

  1. Họ và tên: Vũ Văn C, sinh năm 1996 tại tỉnh Nam Định; Đăng ký thường trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nơi ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn Q1 và bà Phạm Thị P; Vợ, con: chưa; tiền án: Không, tiền sự: Không. D chỉ bản số: 178 ngày 22/03/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội. Bị cáo đầu thú bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/03/2024 đến nay tại trại giam S1 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

  1. Anh Phạm Văn D1; sinh năm: 2005; Đăng ký thường trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
  2. Bà Nguyễn Thị H1; sinh năm 1979; Đăng ký thường trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lù Thị G, sinh năm 2002; Trú tại Thôn L, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h30 ngày 09/03/2024, anh Phạm Anh D2, sinh năm: 2005; đăng ký thường trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe máy Honda Wave, màu đỏ, BKS: 98M2 - 8145 đi trên đường Đ hướng Đ đi phố T, quận H, Thành phố Hà Nội khi qua khu vực đèn xanh đèn đỏ, trước số nhà D Đ, quận H, thành phố Hà Nội thì va chạm giao thông với Vũ Văn C điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám, BKS 18G1 - 57756, đang lưu thông cùng chiều. Hậu quả: xe máy nhãn hiệu Honda Vision của C vỡ cánh yếm bên phải và chắn bùn, xe máy Honda Wave của anh D2 bị gãy phần để chân bên trái. C yêu cầu anh D2 phải đền bù tiền hoặc đưa căn cước công dân hoặc giấy tờ xe máy. Do không mang tiền cũng như giấy tờ nên anh D2 dẫn C về ký túc xá Đại học B để lấy giấy tờ. Khi vào nhà xe B6 ký túc xá Đại học B1, C yêu cầu anh D2 đi tìm quán sửa xe gần nhất để tham khảo giá sửa xe. Trên đường đi, C gọi Zalo cho Phạm Hoàng T2 (là con riêng của bố dượng của C), C nhờ T2 đến để giải quyết và gửi định vị cho T2. Trong khi chờ T2 đến, C yêu cầu anh D2 đi cùng để tìm quán sửa xe. Khi đến đèn đỏ ngã tư T - V, anh D2 tăng ga bỏ chạy được khoảng 300 mét thì bị C đuổi kịp và ép vào lề đường. Một lúc sau thì Phạm Hoàng T2 cùng Đinh Văn T đi đến và cả

3/8

bốn người tiếp tục đi tìm quán sửa xe. Để anh D2 không bỏ chạy, T sang ngồi sau xe của anh D2. Do không tìm thấy quán sửa xe nên tất cả dừng ở trước số C đường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Tại đây, C, T2 và T, xuống xe, đứng vây quanh anh D2. Anh Dũng xin không phải đền nhưng C, T và T2 yêu cầu anh D2 gọi điện cho gia đình chuyển tiền đền H2 cầm cố xe, điện thoại để lấy tiền đền bù. C nói với T: “em ơi, xem 1 triệu rưỡi đến 2 triệu thôi” thì T đáp: “chắc phải tầm đấy anh ạ”. Sau đó, T yêu cầu anh D2 phải đền 2.000.000đồng. Khi anh D2 lấy điện thoại Iphone 12 màu đen của mình ra thì bị T dùng tay giật lấy và nói “đưa đây để tao gọi”. T giằng co chiếc điện thoại với anh D2 và yêu cầu anh D2 đọc mật khẩu. Anh Dũng chống cự thì bị T dùng tay trái đấm 02 nhát vào mặt khiến anh D2 sợ hãi, buông tay để T lấy máy và đọc mật khẩu khóa màn hình cho T. Sau khi mở được điện thoại, T tìm trong danh bạ và gọi điện thoại cho mẹ D2 là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1979; đăng ký thường trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Chị H1 nghe máy, biết được anh D2 va chạm giao thông và bị nhóm T bắt phải bồi thường 2.000.000đồng thì xin bỏ qua nhưng cả nhóm không đồng ý. T2 đe dọa nếu chị H1 không chuyển tiền thì anh D2 phải cắm điện thoại để lấy tiền đền bù. Khi biết D2 bị đánh thì chị H1 đồng ý chuyển tiền theo yêu cầu; C bảo T2 đưa số tài khoản để chị H1 chuyển tiền thì T2 đọc số tài khoản 0369291689 thuộc ngân hàng M của vợ là Lù Thị G để T gửi cho chị H1. Trong khi chị H1 sử dụng tài khoản ngân hàng V số [...] của mình để chuyển số tiền 2.000.000đồng vào tài khoản của Lù Thị G thì C bỏ về trước. Sau đó, T2 và T cũng lên xe, T2 điều khiển xe còn T ngồi sau cầm chiếc điện thoại của anh D2, anh D2 xin lại điện thoại thì T không trả. Anh D2 điều khiển xe máy đi theo và tiếp tục xin lại điện thoại nhưng T không trả. Khi đi đến đoạn qua hầm K thì chị H1 đã chuyển tiền thành công, anh D2 tiếp tục xin lại điện thoại nhưng T2 điều khiển xe đi nhanh, anh D2 không theo kịp và mất dấu xe máy của T2 và T. Đến ngày 11/03/2024, anh Phạm Anh D2 đến Công an phường T, quận H, thành phố Hà Nội trình báo sự việc và đề nghị xử lý các đối tượng theo quy định của pháp luật. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại di động Iphone 12 của anh Phạm Anh D2. Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 87/KL-HĐ ĐGTS ngày 25/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12, số IMEI: 353304544168197, 64GB, màu đen, đã qua sử dụng trị giá: 7.000.000đồng. Tại Cơ quan điều tra, anh Phạm Anh D2, chị Nguyễn Thị H1 khai nội dung như đã nêu trên. Do thương tích nhẹ, anh D2 từ chối giám định thương tích. Ngày 11/3/2024, Vũ Văn C đến Công an Phường T đầu thú và giao nộp 01 (một) xe máy Vision màu xám BKS 18G1 57756, phần yếm, chắn bùn bên phải xe đã bị vỡ. Ngày 12/3/2024, Phạm Hoàng T2 đến Công an Phường T đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn C và Phạm Hoàng T2 khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai anh

4/8

Phạm Anh D2, chị Nguyễn Thị H1 và nội dung như nêu trên. C không biết T2, T chiếm đoạt, không trả lại chiếc điện thoại cho anh D2. Ngoài ra, T2 khai: Khi biết chị H1 đã chuyển số tiền 2.000.000đồng vào tài khoản của vợ T2 thì T2 có yêu cầu T trả điện thoại cho anh D2. Khi về đến nhà, T2 bảo vợ là Lù Thị Giàng C1 số tiền 2.000.000đồng (đã nhận của chị H1) vào tài khoản T4 số 19038157689019 của T2. Sau đó, T2 chuyển lại 1.500.000đồng vào tài khoản M1 số 9999999968268 của C (do C nói cho T2 500.000đồng để uống nước, phù hợp với lời khai của C). Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận H đã tiến hành xác minh, triệu tập Đinh Văn T, kết quả: T vắng mặt tại nơi cư trú. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 20/09/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận H đã ra Quyết định truy nã đối với Đinh Văn T về tội Cướp tài sản. Do T bỏ trốn, hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã số 3705 ngày 23/9/2024 đối với Đinh Văn T; Ngày 30/10/2024, T bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận H bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Văn T khai nhận hành vi như đã nêu trên. Khi ngồi sau xe của T2, T không nghe thấy T2 yêu cầu T trả lại chiếc chiếc điện thoại nêu trên cho anh D2. Sáng sớm ngày 10/3/2024, T mang điện thoại này đi bán được số tiền 4.200.000đồng tại một cửa hàng điện thoại tại khu vực quận C (T không nhớ tên và địa chỉ). Sau đó, T đi chiếc xe máy do C cho T về Ninh Bình. Sau khi biết T2 bị bắt, T đã mang bán chiếc xe này cho một người đàn ông không quen biết được số tiền 650.000đồng tại khu vực Gián Khẩu, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, rồi T bỏ trốn. Khi T đang lẩn trốn tại xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì bị Cơ quan Công an bắt giữ. Số tiền bán xe T đã tiêu xài cá nhân hết. Về mâu thuẫn với lời khai của T2 về việc sau khi chị H1 chuyển tiền, T2 yêu cầu T trả lại chiếc điện thoại trên cho anh D2, T khẳng định không nghe thấy. Kết quả đối chất: T giữ nguyên lời khai và từ chối đối chất. Đối với Lù Thị G không liên quan đến hành vi phạm tội của T2, chị G không biết số tiền 2.000.000đồng chuyển vào tài khoản của mình là số tiền C, T2 và T chiếm đoạt của anh D2, do đó không có căn cứ xử lý đối với G. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải nhưng T không xác định được cửa hàng điện thoại mà T đã bán chiếc điện thoại Iphone 12 của anh Phạm Anh D2, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, thu hồi chiếc điện thoại trên. Đối với 01 (một) xe máy Honda Vision màu xám, BKS: 18G1 - 57756 thu giữ của Vũ Văn C (có số khung: 115549, số máy: 7815525), qua tra cứu không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật, chủ đăng ký, sở hữu hợp pháp là Vũ Văn C. C không yêu cầu đền bù, giải quyết đối với phần hư hỏng, thiệt hại của chiếc xe do va chạm với anh Phạm Anh D2 và không còn có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự. Đối với 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, màu đỏ, BKS: 98M2-8145, (SK: 201697, SM: 6201704), qua tra cứu không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật, chủ đăng ký, sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị H1. Chị H1 cho con trai là

5/8

anh Phạm Anh D2 sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi lại. Ngày 09/3/2024, anh D2 điều khiển chiếc xe trên và xảy ra va chạm với Vũ Văn C. Do không hư hỏng lớn, chị H1 không yêu cầu đền bù, giải quyết đối với phần hư hỏng, thiệt hại của chiếc xe.

Ngày 23/9/2024, Đại diện gia đình Vũ Văn C, Phạm Hoàng T2 đã bồi thường cho anh Phạm Anh D2 số tiền 8.300.000đồng. Sau khi nhận bồi thường, anh D2, không còn có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự trong vụ án này. Đối với chiếc xe máy T2 và T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, T2 mua của một người không quen biết (không lập văn bản) ngày 09/03/2024 T2 đã cho T chiếc xe trên. Quá trình điều tra không xác định được thông tin chiếc xe, không xác định được địa chỉ, địa điểm và người đã mua chiếc xe trên của T, do vậy không có căn cứ để truy tìm, xử lý. Đối với số tiền C, T2 đã bồi thường cho anh D2 và giá trị chiếc xe T đã mượn của T2 (hiện không được thu hồi), C, T2 sẽ tự thỏa thuận, giải quyết với T và không yêu cầu giải quyết trong vụ này.

Bản cáo trạng số 355/CT -VKS ngày 11/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố Đinh Văn T, Phạm Hoàng T2 và Vũ Văn C về tội: "Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn T từ 54 tháng đến 60 tháng tù. Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T2 từ 48 tháng đến 54 tháng tù. Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 42 tháng đến 48 tháng tù. Về dân sự: Ngày 23/9/2024, Đại diện gia đình bị cáo Vũ Văn C và Phạm Hoàng T2 đã bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; đề nghị trả lại bị cáo Vũ Văn C 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Vision màu xám BKS 18G1-577.56, SK: RLHJK 0354PZ115549, SM: JK 03E7815525 là tài sản riêng của bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H,

6/8

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà các bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau: Ngày 09/3/2024 xuất phát từ va chạm giao thông giữa Vũ Văn C và anh Phạm Anh D2, sau khi C gọi Phạm Hoàng T2 đã đi cùng Đinh Văn T đến để giúp C giải quyết sự việc. Tại khu vực trước số nhà C đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội, Đinh Văn T có hành vi dùng tay không đấm vào mặt anh Phạm Anh D2 khiến anh D2 sợ hãi phải giao chiếc điện thoại Iphone 12 cho T, C và T đã sử dụng chiếc điện thoại này gọi điện yêu cầu chị Nguyễn Thị H1 là mẹ của anh D2 chuyển khoản chiếm đoạt số tiền 2.000.000đồng. Sau khi chiếm đoạt được số tiền 2.000.000đồng Vũ Văn C ra về, Phạm Hồng T3 và Đinh Văn T không trả lại và chiếm đoạt chiếc điện thoại trị giá 7.000.000đồng nêu trên của anh D2. Do đó đủ căn cứ khẳng định các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Hồng T3 và Đinh Văn T phạm tội "Cướp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử các bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Trong vụ án này có đồng phạm nhưng giản đơn, đánh giá vai trò của các bị cáo xác định bị cáo T có vai trò chính là người đánh bị hại, uy hiếp tinh thần làm cho bị hại buộc phải giao tài sản cho các bị cáo nên khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo T với mức án cao nhất. Tiếp đến là bị cáo T3 sau đó là bị cáo C cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo. Bản thân bị cáo T có nhân thân không tốt có 02 tiền sự trong đó 01 tiền sự đã hết thời hiệu và 01 tiền sự chưa hết thời hiệu. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải; đối với bị cáo T3 và C đã tác động đến gia đình để bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo T3 và bị cáo C ra đầu thú. Đó là những tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ nhưng có phần nghiêm khắc; do vậy Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

7/8

[4]. Về dân sự: Bị hại đã nhận được số tiền bồi thường không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Đối với số tiền gia đình các bị cáo T3 và C đã bồi thường cho bị hại, tại phiên tòa bị cáo T3 và C không yêu cầu bị cáo T phải trả lại cho các bị cáo số tiền này nên không xem xét giải quyết.

[5]. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Vision màu xám BKS 18G1-577.56, SK: RLHJK 0354PZ115549, SM: JK 03E7815525 thu giữ của bị cáo Vũ Văn C, đây là tài sản riêng của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T, Phạm Hoàng T2 và Vũ Văn C phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T: 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; Điều 17, Điều 58; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng T2: 42(Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn C: 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2024.

Về dân sự: Bị hại đã nhận được số tiền bồi thường không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Về vật chứng: Trả lại bị cáo Vũ Văn C 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Vision màu xám BKS 18G1-577.56, SK: RLHJK 0354PZ115549, SM: JK 03E7815525. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng số 14/15 ngày 11/10/2024).

8/8

Về án phí: Bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Hoàng T2 phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Văn C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Hai Bà Trưng.
  • - VKS TP. Hà Nội
  • - Công an TP. Hà Nội.
  • - Bị cáo.
  • - Lưu./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Tiến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger