Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14-3-2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình:

Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoàng và ông Lê Minh Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 490/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn” theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 08/TB-TA ngày 07/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Nguyệt Y, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn Ở, sinh năm 1976; Địa chỉ: Khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Thị Nguyệt Y vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Phạm Văn Ở vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Võ Thị Nguyệt Y trình bày:

Bà và ông Phạm Văn Ở do mai mối rồi chung sống với nhau từ năm 1997, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký hết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và ly thân từ năm 2023. Nay, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Bà Võ Thị Nguyệt Y yêu cầu được ly hôn ông Phạm Văn Ở;

Về con chung: có 02 (hai) con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 08/4/1999, Phạm Văn T1, sinh ngày 30/12/2003 đều đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là ông Phạm Văn Ở để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Phạm Văn Ở vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Phạm Văn Ở cũng như không tiến hành hòa giải được.

Tòa án đã ban hành thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo cho ông Phạm Văn Ở biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng ông Phạm Văn Ở cũng không có ý kiến phản hồi.

Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Võ Thị Nguyệt Y vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Bị đơn ông Phạm Văn Ở vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tại phiên tòa, bà Võ Thị Nguyệt Y vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Phạm Văn Ở vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Nguyệt Y.

Về hôn nhân: Do bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở không đăng ký kết hôn nên căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở.

Về con chung: Ghi nhận bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở có 02 (hai) con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 08/4/1999, Phạm Văn T1, sinh ngày 30/12/2003 đã trưởng thành nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở chung sống với nhau từ năm 1997, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký hết hôn. Ông Phạm Văn Ở có địa chỉ thường trú tại: Khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà Võ Thị Nguyệt Y khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phạm Văn Ở nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn”.

[2] Về việc có mặt, vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bà Võ Thị Nguyệt Y vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Phạm Văn Ở vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Xét việc tranh chấp:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, thì: “...Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...

Và điểm b Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000, thì:

...b) N và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng...

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, thì: “...Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. N, nữ có điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...

... Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn...

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...

Theo lời khai của bà Võ Thị Nguyệt Y thì bà và ông Phạm Văn Ở chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn thì việc kết hôn không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Bà Võ Thị Nguyệt Y có yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn Ở. Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở giải quyết ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

[3.2] Về con chung: Ghi nhận bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở có 02 (hai) con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 08/4/1999, Phạm Văn T1, sinh ngày 30/12/2003 đã trưởng thành nên không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung: Bà Võ Thị Nguyệt Y không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Về nợ chung: Bà Võ Thị Nguyệt Y không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9; Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở.
  2. Về con chung: Ghi nhận bà Võ Thị Nguyệt Y và ông Phạm Văn Ở có 02 (hai) con chung tên Phạm Văn T, sinh ngày 08/4/1999, Phạm Văn T1, sinh ngày 30/12/2003 đã trưởng thành nên không xem xét.
  3. Về quan hệ tài sản:
    • Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
    • Về nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét

4. Về án phí:

Bà Võ Thị Nguyệt Y phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021530 ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Bà Võ Thị Nguyệt Y đã nộp đủ. Ông Phạm Văn Ở không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn (1);
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu văn phòng (1);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Trí Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Võ Thị Nguyệt Yến và ông Phạm Văn Ớ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger