|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HSST Ngày: 11/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Dung
Bà Nguyễn Anh Thư
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Minh Anh – Cán bộ Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 03 năm 2025 tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 24/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXHS-ST ngày 27/02/2025 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN VĂN T – sinh năm 1986 tại Thái Bình; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Số B T, tổ C, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tư do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C (sinh năm 1959); Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 5; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 16/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
2. TRẦN VĂN K – sinh năm 1980 tại Nam Định; Giới tính: Nam; HKTT: Địch Giáo Tây, xã G, huyện G, Tỉnh Nam Định; Chỗ ở: Số C G, tổ A phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 5/12; Con ông: Trần Văn S (sinh năm 1950); Con bà: Trần Thị T2 (sinh năm 1953); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 2; Có vợ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1984); Có 02 con: con lớn sinh năm 1999, con thứ hai sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9h30' ngày 16/12/2024, tại số nhà B T, tổ C T, H, Hà Nội, tổ công tác C1 bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn K. Tổ công tác thu giữ trong túi quần bên trái của K 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước (0,5x1)cm bên trong có chứa chất bột màu trắng. Thu giữ trong túi quần bên phải của T 02 tờ tiền polimer mệnh giá 100.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang, niêm phong và thu giữ vật chứng, đưa các đối tượng cùng tang vật thu giữ về trụ sở Cơ quan Công an để điều tra làm rõ.
Vật chứng vụ án: Thu giữ của Trần Văn K 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước (0,5x1) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 xe máy Honda Wave S BKS: 18R1-2562. Thu giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và số tiền 200.000 đồng.
Kết luận giám định số 8855/KL-KTHS ngày 25/12/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại heroin, khối lượng: 0,202 gam.
Cùng ngày cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T và Trần Văn K nhưng không phát hiện và thu giữ vật gì liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Khoảng 7h00' ngày 16/12/2024 T đi đến khu vực bến xe G với mục đích tìm mua ma túy về bán cho con nghiện. Tại đây T mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. T cầm gói ma túy vừa mua được rồi đi về nhà. Tại nhà T đã sử dụng 01 phần ma túy, chỗ ma túy còn lại T gói thành gói như ban đầu. Đến khoảng 9h15' cùng ngày thì Trần Văn K điều khiển xe máy tới nhà T tại địa chỉ 28/260/3 T, T, H, Hà Nội để hỏi mua ma túy. T đồng ý bán cho K chỗ ma túy còn lại với giá 200.000 đồng. Ngày khi cả 02 vừa nhận tiền và giao ma túy thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng. Nguyễn Văn T khai nhận đây là lần đầu tiên bán ma túy.
Ngày 16/12/2024 công an đã dẫn giải T đi xác định địa điểm mua ma túy nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đã bán ma túy cho T. Do đó, Cơ quan điều tra C2 không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và số tiền 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại là tài sản của T còn số tiền 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho K. Cơ quan điều tra đã chuyển số vật chứng này đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai, để chờ quyết định xử lý.
Đối với 01 xe máy Honda Wave S BKS: 18R1-2562 thu giữ của Trần Văn K. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của K. Cơ quan điều tra đã chuyển số vật chứng này đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai, để chờ quyết định xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T và Trần Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKS-HM ngày 13/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội truy tố:
Bị cáo Nguyễn Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi như đã khai tại Cơ quan điều tra; Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng hành vi các bị cáo đã thực hiện và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 26 đến 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn K mức hình phạt từ 14 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2024.
Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy ma túy; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đồng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 18R1-2562 thu giữ của các bị cáo; trả lại bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên và của các Cơ quan tiến hành tố tụng.
Hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và các Cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo đúng thủ tục tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh, hình phạt: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 9h30' ngày 16/12/2024, tại số nhà B T, tổ C phường T, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,202 gam heroin cho Trần Văn K với giá 200.000 đồng thì bị cơ quan công an bắt quả tang cùng vật chứng. Trần Văn K khai nhận mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Trần Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng. Các bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Vì vậy, cần có mức hình phạt tù giam cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để có đủ tác dụng cải tạo đối với các bị cáo.
[3]Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1]Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[3.2]Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho các bị cáo.
Do các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[4]Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đồng thu giữ của bị cáo T và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 18R1-2562 thu giữ của bị cáo K; trả lại bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Bị cáo Trần Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2024.
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền cho các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 0,202 gam ma túy Hêroin thu giữ của Trần Văn K;
- - Tịch thu sũng quỹ Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen; BKS: 18R1-2562, số khung 234824, số máy 1435715 thu giữ của bị cáo Trần Văn K.
- - Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung số Imei 1: 352575631026346; sô Imei 2: 358053731026347;
- Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Cơ quan thi hành án dân sự quận H, thành phố Hà Nội theo phiếu nhập vật chứng số 0082 ngày 19/02/2025.
- - Tịch thu sũng quỹ Nhà nước 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T. Số tiền này hiện đã nộp tại Kho bạc nhà nước theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/02/2025.
Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Việt Anh |
Bản án số 43/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 43/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma tuý
