Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc và ông Đinh Tuấn Đạt
  • Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tùng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Chu Thị T - sinh năm 1988, tại Phú Thọ

Nơi cư trú: Tổ E, Ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn B (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (Đã chết); Có chồng là Phạm Hữu L – sinh năm 1980; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại (Có mặt)

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T2 – sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hữu L – sinh năm 1980 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thanh T3 (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 09/12/2024, Chu Thị T điều khiển xe mô tô biển số 60B3-292.08 đi đến tiệm V1 thuộc Ấp D, xã P, huyện T do ông Nguyễn Văn T2 làm chủ, để mua nữ trang. Lúc này, T nói chị Nguyễn Thị Thanh T3 (là con ông T2) cho T xem 07 đến 08 đôi bông tai, lợi dụng lúc chị H không để ý, T lén lút lấy 01 đôi bông tai hình chiếc lá cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải. Sau đó, T mua thêm 01 nhẫn vàng giá khoảng 1.000.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô chạy về nhà tại xã N. Ngày 14/12/2024, ông T2 làm đơn trình báo đến Công an xã P. Đến ngày 15/12/2024, Chu Thị T đến Công an xã P đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 đôi bông tai hình chiếc lá.

Tại Kết luận giám định số 7836/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 đôi bông tai (02 chiếc) bằng kim loại màu vàng có đính đá trắng, tổng khối lượng 2,4201 gam được niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (A), B1 (A), Đ (Cu). Hàm lượng: Vàng: 65,98%, Bạc: 13,92%, Đồng: 20,01%.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận 01 đôi bông tai (02 chiếc) bằng kim loại màu vàng có đính đá trắng, tổng khối lượng 2,4201 gam được niêm phong, gửi giám định có giá trị 3.320.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Chu Thị T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 50/CT-VKSTP-ĐN ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Chu Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Chu Thị T mức án 10 (Mười) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng ản treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị xem xét; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho ông L một xe mô tô là phù hợp nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào khoảng 17 giờ ngày 09/12/2024 tại tiệm V1 thuộc ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Chu Thị T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 đôi bông tai (02 chiếc) bằng kim loại màu vàng có đính đá trắng, có giá trị 3.320.000 đồng của ông Nguyễn Văn T2.

Hành vi của Chu Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú. Ngoài ra còn xem xét bị cáo hiện nay có hoàn cảnh khó khăn đi làm công nhân và phải nuôi con nhỏ; tài sản đã được thu hồi trao trả cho chủ sở hữu; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, vì muốn lấy tài sản để sử dụng nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; đồng thời cũng cần tạo điều kiện để bị cáo nuôi con nhỏ. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân sống có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo có nghề nghiệp làm công nhân và phải nuôi con nhỏ, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét; Đối với xe mô tô hiệu Yamaha loại Sirius màu đen xám biển số 60B3 – 292.08 do không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho ông Phạm Hữu L là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử, đối với mức hình phạt có phần hơi nghiêm khắc do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 46, Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • - Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch 01/2023/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Chu Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Chu Thị T 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/3/2025).

Giao bị cáo Chu Thị T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Chu Thị T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Chu Thị T 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/3/2025).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger