TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:43/2025/HS-ST
Ngày 07/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Hoàng Thị Hồng.
- - Ông Nguyễn Văn Tư.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Phạm Mai K, sinh năm 1986; Nơi thường trú: Khu phố V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Phạm Mai H, sinh năm 1956 và bà Lê Thị N, sinh năm 1962; gia đình có 3 chị em, bị cáo là thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 39 ngày 24/02/2012 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 6 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; chấp hành xong án phạt tù ngày 21/01/2016; chấp hành xong án phí ngày 01/6/2016, đã được xoá án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
- Phạm Văn L, sinh năm 1989; Nguyên quán: Khu phố V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Không.; Nơi ở hiện nay: Thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị D, sinh năm 1967; gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ là Trương Ngọc H1, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 2 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
- Nguyễn Văn P, sinh năm 1987; Nơi thường trú và nơi ở: Tổ dân phố N, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Văn M sinh năm 1938 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; gia đình có 10 anh em, bị cáo là thứ 8; Vợ là chị Ngô Thị H2, sinh năm 1993 và có 3 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ ngày 21/8/2024 đến ngày 30/8/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.
- Nguyễn Văn S, sinh năm 1993; Nơi thường trú và nơi ở: Tổ dân phố N, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Nguyễn Văn M sinh năm 1938 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1952; gia đình có 10 anh em, bị cáo là thứ 10; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ ngày 21/8/2024 đến ngày 30/8/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.
(Các bị cáo đều có mặt)
* Bị hại:
- - Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1977
- Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- - Anh Vũ Quang H3, sinh năm 2007
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn D1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984
(Anh H3, ông D1, bà L1 cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang)
* Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Bá P1, sinh năm 2006
- Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Lưu Quang T2, sinh năm 1992
- Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
(Bị hại, đại diện của bị hại và người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S, sinh năm 1993 là em trai Nguyễn Văn P, sinh năm 1987 cùng trú tại thôn N, xã D (nay là phường D), thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Hai người có quen biết Phạm Mai K, sinh năm 1986, trú tại khu phố V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Phạm Văn L, sinh năm 1989, trú tại thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và Lương Quang T3, sinh năm 1992, trú tại xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang do cùng làm thợ sơn cho các công trình xây dựng.
Buổi trưa ngày 18/8/2024, P và S mời K, L, T3 về nhà P ăn uống vì ngày hôm đó là rằm tháng 7. Sau khi ăn uống xong, cả nhóm rủ nhau đi hát karaoke rồi tiếp tục cùng nhau đi uống bia tại quán bia ở thôn N, xã D (nay là phường D), thành phố B. Khoảng 19 giờ cùng ngày, cả nhóm cùng đi bộ để về nhà P. Trên đường về, K đi tắt qua công trường đang xây dựng của Công ty TNHH T5 ở thôn N, xã D (nay là phường D), thành phố B. Mọi người tưởng K bị lạc đường nên đi vào khu vực công trường tìm và gọi.
Thời điểm này, anh Vũ Văn Q, sinh năm 1977 và anh Vũ Quang H3, sinh năm 2007 cùng trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là công nhân Công ty TNHH T5 đang ở trong lán trông coi công trường. Anh Q nhìn thấy S đi vào trong công trường nên hỏi mục đích đi vào thì S nói vào tìm người đi lạc đường. Anh Q không cho S vào bên trong công trường nên hai người xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. S đi ra vừa đi vừa nhặt sỏi ném vào lán quây bằng tôn của công trường.
Đối với Phạm Mai K đang đứng ở gần cửa lán công trường nghe thấy tiếng mọi người gọi nên đã nhặt 01 gậy gỗ dài khoảng 01 m mục đích để thuận tiện di chuyển khi đi qua bãi đất đang san lấp trong công trường. Anh Vũ Quang H3 nhìn thấy K cầm gậy nên đi ra hỏi thì K trả lời là đi tìm người trong nhóm. Anh Q và anh H3 đi ra cổng lán mở cổng cho K đi ra ngoài. Khi nhìn thấy K cầm gậy từ trong lán đi ra thì S chạy đến cổng lán chỉ tay về phía anh Q và nói “Đúng thằng này, nó thách thức mình đấy, đập chết nó đi”. Thấy vậy, K dùng chân phải đạp một cái vào bụng anh H3. Ngay sau đó, S dùng chân trái đạp một cái vào ngực anh Q. Do bị đánh nên anh Q dùng hai tay giữ hai tay của S thì K xông đến, hai tay cầm chiếc gậy gỗ dài khoảng 01 m vụt một cái trúng vào tay phải và 01 cái trúng vào vùng gáy bên phải của anh Q làm anh Q buông tay đang giữ S ra. Sang hô hoán “Anh ơi bọn nó đánh em”. K tiếp tục cầm gậy gỗ vụt một cái trúng vào phần mũi bên phải anh Q làm anh Q bị chảy máu. Phạm Văn L đứng ở cạnh đó nghe thấy tiếng S nói và nhìn thấy S và K đánh anh Q.
P nghe thấy tiếng S hô thì chạy vào kéo S lùi ra phía ngoài. Anh H3 cầm 01 thanh gỗ dài khoảng 01 m vụt về phía S thì P giơ tay trái lên đỡ thì bị vụt trúng cẳng tay trái. P giằng được gậy của anh H3 rồi vụt một cái về phía đầu anh Q. Anh Q đang dùng 2 tay ôm đầu nên bị P vụt trúng bàn tay trái làm gãy đốt 3 ngón 4 bàn tay trái và chiếc gậy bị gẫy. P vứt gậy xuống đất rồi đẩy S ra phía ngoài cổng lán. Anh H3 chạy đến dùng hai tay ôm P từ phía sau thì bị P đẩy ra rồi cùng S chạy đến đánh anh Q. Hai người dùng tay giữ người anh Q rồi S dùng đầu gối phải thúc vào bụng và dùng tay phải đấm một cái vào ngực anh Q; P dùng đầu gối trái thúc vào ngực và dùng tay trái đấm một cái trúng vào vùng mắt phải anh Q. L chạy vào ôm và kéo P ra phía cổng còn S tiếp tục dùng tay phải đấm một cái vào bụng anh Q. Lúc này, L chạy vào dùng tay phải đấm một cái về phía mặt anh Q thì anh Q giơ tay trái lên đỡ. L dùng đầu gối chân phải thúc một cái trúng vào vùng thắt lưng anh Q. Khi P chạy đến định đánh thì bị anh Q dùng tay đấm một cái trúng vào mặt. L tiếp tục dùng đầu gối chân trái thúc một cái vào ngực anh Q.
Anh H3 nhìn thấy anh Q bị nhóm của S quây đánh nên chạy vào trong lán cầm hai chiếc chổi cán bằng tre vụt P một cái trúng vào gáy. P dùng tay trái đấm một cái vào đầu bên phải anh Q. Anh H3 tiếp tục cầm chiếc chổi ở tay phải vụt một cái trúng vào vai trái P. Anh Q dùng hai tay cầm chiếc chổi ở tay trái của anh H3 chọc đầu cán chổi trúng vào bụng P. Lúc này, K cầm gậy gỗ ở tay phải vụt một cái trúng vào đầu bên phải anh H3. P giằng chiếc chổi anh Q đang cầm làm anh Q bị ngã xuống đất. P đấm một cái trúng vào vai trái anh Q thì anh Q bỏ chạy ra phía cổng lán. L và S giơ tay lên đấm nhưng anh Q tránh được nên không trúng. L tiếp tục dùng chân đạp anh Q nhưng không trúng và bị trượt ngã. Anh Q chạy ra đường hô hoán thì S đuổi theo nhưng không đuổi kịp. P cầm chổi đánh anh H3 thì anh H3 bỏ chạy vào trong lán. K cầm chiếc quạt cây định đuổi đánh anh H3 thì S ngăn lại. K tiếp tục cầm chiếc ghế sắt định đuổi đánh anh H3 thì P can ngăn rồi đẩy ra ngoài cổng. Thấy anh Q đứng ở đường, K và S tiếp tục đuổi đánh thì anh Q bỏ chạy. K cầm chiếc ghế sắt ném về phía anh Q nhưng không trúng. Sau đó, cả nhóm đi về nhà P. Anh Q và anh H3 bị thương đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị sau đó có đơn yêu cầu khởi tố, xử lý hành vi cố ý gây thương tích của các bị can theo pháp luật.
Ngày 21/8/2024, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn P, Phạm Mai K, Phạm Văn L đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra tạm giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38 gắn sim số 0916.637.095 và số 0929.455.322; tạm giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realmi C30S gắn sim số 0333.415.949 và số 0963.767.736.
Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường đã thu giữ 01 chiếc chổi cán tre dài 1,3 m, phần cán có đường kính 3 cm; 01 chổi cán tre dài 1,42 m, phần cán có đường kính 03 cm; 02 đoạn gậy gỗ dài lần lượt là 38,5 cm và 54 cm.
Ngày 19/8/2024, ông Vũ Văn C, sinh năm 1980 trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là bảo vệ công trường nhặt được chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi và 01 căn cước công dân của Nguyễn Văn S bị rơi tại hiện trường nên đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã cho Phạm Mai K xác định vị trí vứt chiếc gậy gỗ dùng đánh anh Q. Kết quả thu giữ tại khu vực gần nhà tắm của công trường xây dựng 01 chiếc gậy gỗ hình trụ dài 01 m, đường kính 02 cm, một đầu có rãnh xoắn ốc dài 2,5 cm.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thương tích của anh Vũ Văn Q và anh Vũ Quang H3. Kết quả như sau:
* Về thương tích của anh Vũ Văn Q:
Giấy chứng nhận thương tích ngày 20/8/2024 và Bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác nhận:
- - Anh Vũ Văn Q vào viện ngày 18/8/2024, ra viện ngày 26/8/2024.
- - Tình trạng thương tích lúc vào viện:
- + Đau vùng mũi, mặt; tháp mũi sưng nề có vết thương xây sát 0,5 cm; hốc mũi hai bên có ít máu đọng; mi mắt phải bầm tím; vùng chẩm phải sưng nề, ấn đau; vùng ngực ấn đau; vùng cánh tay hai bên có vết bầm tím khoảng 03 cm;
- + Vết thương ngón 4 bàn tay trái; X-Q1: Gãy đốt 3 ngón 4 bàn tay trái;
- + CT: Gãy xương cánh mũi hai bên.
- - Tình trạng thương tích lúc ra viện: Khỏi (bút lục 138 tập 1).
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2559 ngày 21/8/2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Thương tích sưng nề bầm tím hố mắt phải: 0,5%.
- - Thương tích hai vết xước da đóng vảy khô tháp mũi phải chưa đánh giá do chưa liền sẹo.
- - Thương tích sưng nề vùng chẩm phải, ấn đau: 0%.
- - Khám ngực phải không thấy dấu vết thương tích, ấn đau: 0%.
- - Thương tích bầm tím mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay trái: 0,5%.
- - Khám cánh cẳng tay phải không thấy dấu vết thương tích: 0%.
- - Thương tích vết thương đốt 3 ngón 4 bàn tay trái kích thước nhỏ + X-quang: Gãy đốt 3 ngón 4 bàn tay trái: 2%.
- - Thương tích CT: Gãy xương cánh mũi hai bên: 9%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Văn Q tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên.
* Về thương tích của anh Vũ Quang H3:
Giấy chứng nhận thương tích ngày 21/8/2024 và Bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác nhận:
- - Anh Vũ Quang H3 vào viện ngày 20/8/2024, ra viện ngày 23/8/2024.
- - Tình trạng thương tích lúc vào viện: Tỉnh, tiếp xúc chậm; đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, choáng váng, xây sát vùng đầu mặt; Chụp cắt lớp vi tính: Hiện tại không thấy bất thường nội sọ trên MSCT sọ não.
- - Tình trạng thương tích lúc ra viện: Đỡ, giảm.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2561 ngày 21/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính: Thương tích vết xước da đóng vảy khô đang liền sẹo đuôi cung mày trái kích thước trung bình: 6%.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Quang H3 tại thời điểm giám định là 6% (Sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư
- Kết luận khác:
- - Cơ chế, chiều hướng, lực thương tích: Thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng và lực gây thương tích.
- - Việc dùng tay đấm, gậy gỗ vụt gây được thương tích cho anh H3.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 file video trích xuất tại hiện trường do ông Vũ Văn D1, sinh năm 1976 là Giám đốc Công ty TNHH T5 giao nộp ghi lại diễn biến vụ việc.
Kết luận giám định số 2096/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video gửi giám định
- Trích xuất được 12 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra cho các bị can quan sát các file video nêu trên. Các bị can xác định có hình ảnh của mình xô sát đánh nhau với anh Q và anh H3.
Cơ quan điều tra cho anh Lương Văn T4 và các bị can xem bản ảnh nêu trên. Anh T4 và các bị can đều xác định có hình ảnh S, P, K, L cùng tham gia đánh anh Q và anh H3.
Ngày 28/8/2024, Cơ quan điều tra đã cho các bị can S, P, K, L thực nghiệm điều tra về hành vi cố ý gây thương tích. Kết quả các bị can thực hiện thuần thục các động tác dùng gậy gỗ, chân tay đánh anh Q và anh H3 như đã khai.
* Về thương tích của Nguyễn Văn S:
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2565 ngày 22/8/2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh B kết luận: Chưa đánh giá tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích chưa liền sẹo. Cơ quan điều tra đã quyết định trưng cầu giám định bổ sung nhưng S tự nguyện từ chối giám định và không yêu cầu bồi thường.
* Về thương tích của Nguyễn Văn P:
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2566 ngày 22/8/2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn P tại thời điểm giám định là 1%; việc dùng tay đấm, cán chổi bằng gỗ, tre vụt gây được thương tích.
* Về thương tích của Phạm Mai K:
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2567 ngày 22/8/2024 của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Mai K tại thời điểm giám định là 01%; việc dùng tay đấm, cán chổi bằng gỗ, tre vụt gây được thương tích.
Đối với Vũ Quang H3 có hành vi dùng chiếc chổi cán bằng tre đánh Phạm Mai K, Nguyễn Văn P. Hậu quả làm K và P đều bị thương tích 01%. K, P đều xác định do thương tích không đáng kể nên đã có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh H3 và không yêu cầu bồi thường dân sự. Cơ quan điều tra đã đề nghị Trưởng Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Quang H3 về hành vi cố ý gây thương tích.
Đối với anh Vũ Văn Q có hành vi dùng cán chiếc chổi bằng tre chọc vào bụng Nguyễn Văn P. Cơ quan điều tra kết luận hành vi của anh Q là phòng vệ chính đáng nên không xử lý.
Đối với Lương Quang T3 có mặt tại hiện trường nhưng không tham gia đánh Q và anh H3 nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, bị can P đã bồi thường cho anh Q 60.000.000 đồng. Anh Q không yêu cầu các bị can bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo P.
Các bị cáo P và S đã bồi thường cho anh H3 40.000.000 đồng (mỗi người bồi thường 20.000.000 đồng). Anh H3 không yêu cầu các bị can bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ cho P và S.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng đối với 03 đoạn gậy gỗ; 02 chiếc chổi cán bằng tre; 03 điện thoại di động; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S để xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 23 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Phạm Mai K, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, Phạm Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- * Các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu; Bị cáo L khai quê quán của bị cáo tại Thanh Hóa, hộ khẩu ở Thanh Hóa, nhưng khi kết hôn đã chuyển hộ khẩu vào quê vợ ở tỉnh Bến Tre, sau khi vợ chồng ly hôn thì bị cáo cắt khẩu ở tỉnh Bến Tre nhưng chưa nhập khẩu về địa phương nào, hiện nay không đăng ký cư trú thường xuyên địa chỉ cụ thể nào.
- * Hội đồng xét xử công bố lời khai của các bị hại, đại diện của bị hại, những người làm chứng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo đều nhất trí những lời khai này và không có ý kiến gì.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về tội danh và hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Mai K từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/8/2024.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/8/2024.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 2 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S cho Uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 03 đoạn gậy gỗ; 02 chiếc chổi cán bằng tre
- Trả lại 01 điện thoại di động Oppo A38 cho bị cáo K; Trả lại 01 điện thoại di động Realmi C30S cho bị cáo L và 01 điện thoại di động Realmi cùng 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S cho bị cáo S, nhưng tạm giữ điện thoại di động của bị cáo L và bị cáo S để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K; buộc các bị cáo P, L và S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về tội danh và hình phạt:
* Các bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là trái pháp luật, nên các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Các bị hại, đại diện của bị hại, người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ. Do vậy, căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử vắng mặt.
[3] Về hành vi của các bị cáo theo cáo trạng truy tố: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng và Kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 18/8/2024, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn P, Phạm Mai K, Phạm Văn L cùng nhau đi uống bia sau đó đi bộ về nhà P ở thôn N, xã D (nay là phường D), thành phố B. Trên đường về, K đi tắt qua công trường đang xây dựng của Công ty TNHH T5. S, P, L tưởng K bị nhầm đường nên đi vào công trường tìm thì xảy ra mâu thuẫn với anh Vũ Văn Q và anh Vũ Quang H3 là công nhân đang trông coi lán xây dựng. S chỉ tay về phía anh Q và bảo mọi người đánh. Ngay sau khi S bảo đánh, K dùng gậy gỗ đánh anh Q và anh H3. P dùng gậy gỗ đánh vào đầu và dùng tay đấm vào mặt anh Q. S và L dùng chân tay đánh vào người anh Q. Hậu quả làm anh Q bị thương tích 12%; anh H3 bị thương tích 6%.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cầu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
[3] Về tính chất hành vi và vai trò của bị cáo:
- - Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
- - Trong vụ án này các bị cáo đều tham gia đánh nhau gây thương tích cho các bị hại, nhưng do hành động bộc phát nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn; bị cáo Kiên dung gậy gây thương tích và thực hiện hành vi đánh bị hại từ đầu nên vai trò lớn nhất, bị cáo P cũng dùng gậy và tay chân đánh bị hại nên vai trò thứ hai, vai trò tiếp theo là bị cáo S và bị cáo L.
[4] Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Phạm Mai K bị xét xử theo Bản án hình sự sơ thẩm số 39 ngày 24/02/2012 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 6 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, các bị cáo khác có nhân thân tốt, chưa bị Tòa án nào xét xử và chưa bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào xử lý hành chính.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo P và S có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường, khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, sau khi phạm tội dã ra đầu thú, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo K và L có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sư.
[6] Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo P và S có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử thấy không cần bắt phải chịu hình phạt tù, cho hai bị cáo này hưởng án treo thì bị cáo cũng có thể tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Đối với bị cáo K có nhân thân xấu; hai bị cáo L và K chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, phạm tội trường hợp nghiêm trọng, bị cáo L không có nơi cư trú rõ ràng, nên cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử các bị cáo này hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo P đã bồi thường cho anh Q 60.000.000 đồng. Các bị cáo P và S đã bồi thường cho anh H3 tổng số tiền 40.000.000 đồng (mỗi người bồi thường 20.000.000 đồng). Nay không ai yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét.
[8] Về vật chứng: Đối với đối với 03 đoạn gậy gỗ, 02 chiếc chổi cán bằng tre là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 03 điện thoại di động cùng 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, cần giữ lại điện thoại của bị cáo S và bị cáo L để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí: Bị cáo K thuộc trường hợp hộ nghèo nên miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo; các bị cáo khác phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
[11] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Phạm Mai K 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 năm 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02 năm 02 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Giao bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
- - Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 03 đoạn gậy gỗ; 02 chiếc chổi cán bằng tre.
- - Trả lại 01 điện thoại di động Oppo A38 cho bị cáo K; Trả lại 01 điện thoại di động Realmi C30S cho bị cáo L và 01 điện thoại di động Realmi cùng 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S cho bị cáo S, nhưng tạm giữ điện thoại di động của bị cáo L và bị cáo S để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K; buộc các bị cáo P, L và S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Thắng |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về hình sự về tội "cố ý gây thương tích"
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Cố ý gây thương tích"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kiên "Cố ý gây thương tích"
