Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HSST

Ngày: 05-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Phạm Thị Loan
    • Ông Nguyễn Văn Quỹ
  • Thư ký phiên toà: Ông Vũ Thái Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thị Thanh H; sinh ngày 24-7-2002 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi ở: Thôn P, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Trần H1 và bà Phạm Thị T; có chồng Lê Thanh S và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05-11-2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1954; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (không có chồng, con).

Người đại diện hợp pháp của bà Đ: Ông Trịnh Xuân K, sinh năm 1948 (là anh trai bà Đ); nơi cư trú: Số nhà A đường L, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 14-7-2024, Phan Thị Thanh H có giấy phép lái xe hạng A1 được phép điều khiển xe mô tô 2 bánh dung tích xi lanh từ 50 cm³ đến dưới 175 cm³, có giá trị: không thời hạn, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 18B2-396.41 dung tích xi lanh 110cm³ đi trên đường T, thành phố N theo hướng từ cầu T đến đường P. H điều khiển xe mô tô đi trên phần đường bên phải theo hướng đi, cách mép đường bên phải khoảng 3,5m với tốc độ khoảng 35-40km/h. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà A đường T, phường L, thành phố N, H chỉ quan sát phía bên phải mà không chú ý quan sát phía trước và bên trái. H giữ nguyên tốc độ đi thẳng khoảng 10m thì phát hiện xe đạp do bà Trịnh Thị Đ, sinh năm 1954 điều khiển đi ngang qua đường T hướng từ trái qua phải theo hướng H đi với tốc độ chậm và đang ở phần vạch sơn kẻ giữa đường, phần đầu xe đạp do bà Đ điều khiển cách mép đường bên phải theo hướng H đi khoảng 3,5m và cách vị trí xe mô tô do H điều khiển khoảng 02m. H đánh lái sang trái để tránh va chạm nhưng do khoảng cách gần nên phần đầu xe mô tô do H điều khiển va chạm với phần trục bánh trước bên phải xe đạp do bà Đ điều khiển. Bà Đ, H ngã ra đường. Bà Trịnh Thị Đ bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N cấp cứu, điều trị.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường của Công an thành phố N ngày 14-7-2024: Đường T được rải nhựa bằng phẳng rộng 10m10 ở giữa có vạch sơn màu vàng đứt đoạn phân chia mặt đường thành hai chiều, chiều đi hướng từ phía cầu T về đường T rộng 4m80, không có hệ thống đèn chiếu sáng công cộng, trời tối mặt đường ướt.

Xe mô tô biển kiểm soát 18B2-396.41 sau va chạm đổ ngả trái nằm trên đường T, đầu xe quay xiên chếch về phía mép đường chuẩn và đường T, đuôi xe xiên chếch về cầu T và mép đường đối diện mép đường chuẩn. Đầu trục bánh trước bên trái xe cách mép đường chuẩn là 2m70 và cách mép ngõ kéo dài ngõ B đường T là 0m90. Đầu trục bánh sau bên trái xe cách vào mép đường chuẩn là 3m30, cách mép kéo dài ngõ B đường T là 0m30 và cách mốc là 12m20.

Xe đạp sau va chạm đổ ngả trái nằm trên mặt đường T, đầu xe quay xiên chếch về phía mép đường chuẩn và đường T, đuôi xe quay xiên chếch về phía mép đường đối diện mép đường chuẩn và cầu T. Đầu trục bánh trước bên trái xe cách vào mép đường chuẩn là 2m55 và cách tâm xe mô tô là 0m60. Đầu trục bánh sau bên trái xe cách mép đường chuẩn là 3m55 và cách mép kéo dài ngõ B đường T là 1m00.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

  • - Xe đạp: Mặt ngoài gọng tanh bên phải bắt giữ bánh xe phía trước với chắn bùn bánh trước, đầu trục bên phải bánh trước có vết xước làm cong gọng tanh, xước đầu trục bánh xe. Vết có kích thước dài 35,5cm đo theo chiều dài, rộng 0,8cm đo theo chiều cao xe. Mặt ngoài hộp xích bên phải xe có vết trượt xước làm lõm mặt hộp xích có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái. Vết có kích thước dài 07cm đo theo chiều cao xe, rộng 04cm đo theo chiều dài xe. Điểm gần nhất cách trục giữa xe (trục cần đạp) là 8,5cm. Mặt ngoài giỏ đèo hàng phía trước xe có vết trượt xước làm lõm giỏ đèo hàng, có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái. Vết có kích thước dài 6,5cm đo theo chiều cao, rộng 05cm đo theo chiều dài xe.
  • - Xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 18B2-396.41, màu sơn đen xám, số máy IF86E2159517, số khung RLH5F5835Y, dung tích xi lanh 110cm3. Mặt ngoài ốp nhựa mặt nạ có vết trượt xước chiều hướng từ trước về sau, từ phải sang trái. Vết có kích thước dài 14cm đo theo chiều ngang, rộng 11cm đo theo chiều cao xe. Mặt ngoài má lốp bên phải bánh xe phía trước có vết trượt xước, hướng xước ngược chiều tiến bánh xe và từ ngoài vào trong tâm trục bánh xe. Vết có kích thước dài 41cm đo theo chu vi, rộng 7cm đo theo chiều đường kính bánh xe. Mặt ngoài càng xe bên phải bánh xe phía trước và cạnh ốc bắt giữ bánh xe và trục bánh xe phía trước bên phải xe có vết trượt làm sạch bụi đất, xước mặt càng xe và cạnh ốc bắt giữ càng xe. Vết có kích thước dài 6cm, rộng 3cm đo theo chiều ngang xe.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trích xuất và thu giữ 01 đoạn video clip từ camera an ninh lắp tại trước cửa số nhà A đường T, phường L, thành phố N ghi lại một phần diễn biến vụ việc (ký hiệu A).

Quá trình điều tra xác định trong hơi thở của Phan Thị Thanh H không có nồng độ cồn, trong mẫu nước tiểu của Phan Thị Thanh H âm tính với các chất ma túy.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 147/24/TgT ngày 25-10-2024 của Trung tâm giám định y khoa pháp y Sở Y tế tỉnh N kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với bà Trịnh Thị Đ hiện tại là 96%. Cơ chế hình thành vết thương: Vùng đầu va đập với vật cứng gây thương tích.

Bản kết luận giám định số 1338/KL-KTHS ngày 10-8-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong toàn bộ mẫu cần giám định (ký hiệu A); không đủ cơ sở xác định tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn trên thì các phương tiện liên quan đang đi tại chiều đường, làn đường nào, với tốc độ ra sao trong mẫu giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Thị Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Về trách nhiệm dân sự: Phan Thị Thanh H đã bồi thường cho bà Trịnh Thị Đ số tiền 207.500.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bà Đ là ông Trịnh Xuân K, sinh năm 1948, trú tại A đường L, phường V, thành phố N (anh trai bà Đ) nhận đủ số tiền và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phan Thị Thanh H.

Cơ quan điều tra đã xác minh và trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 18B2-396.41 cho Phan Thị Thanh H; 01 xe đạp mini màu xanh đen cho đại diện gia đình bà Trịnh Thị Đ.

Bản Cáo trạng số 50/CT-VKSTPNĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Phan Thị Thanh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Thanh H khai nhận hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn giao thông, gây thương tích cho bà Trịnh Thị Đ như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Thị Thanh H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Phan Thị Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; không giải quyết vấn đề bồi thường dân sự.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Thanh H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
  2. [2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Phan Thị Thanh H, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định số 147/24/TgT của Trung tâm G, Bản kết luận giám định số 1338/KL-KTHS ngày 10-8-2024 của phòng K1 Công an tỉnh N, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 14-7-2024 bị cáo Phan Thị Thanh H có giấy phép lái xe hạng A1 được phép điều khiển xe mô tô 2 bánh dung tích xi lanh từ 50 cm³ đến dưới 175 cm³, có giá trị: không thời hạn, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 18B2-396.41 dung tích xi lanh 110cm³ đi trên đường T theo hướng từ cầu T đến đường P, thành phố N. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà A đường T, phường L, thành phố N, bị cáo H điều khiển xe không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế, mặt đường trơn trượt và có chướng ngại vật phía trước đã xô vào xe đạp do bà Trịnh Thị Đ điều khiển đi ngang qua đường. Hậu quả bà Trịnh Thị Đ bị tổn hại 96% sức khỏe. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn giao thông, đồng thời xâm phạm sức khỏe của người khác, đã vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (nay là khoản 28 Điều 9 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024); khoản 2, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý do cẩu thả. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
  3. [3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

    Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường xong thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  4. [4] Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Tuy nhiên xét thấy trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng cải tạo tại địa phương; nên Hội đồng xét xử sẽ miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  6. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bà Đ số tiền 207.500.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bà Đ đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  7. [6] Về án phí: Bị cáo Phan Thị Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Thanh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt bị cáo Phan Thị Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 3 (ba) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp bị cáo Phan Thị Thanh H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  2. Án phí: Bị cáo Phan Thị Thanh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Thị Thanh H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là bà Trịnh Thị Đ, người đại diện hợp pháp của bà Đ là ông Trịnh Xuân K được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Công an tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã Mỹ Tân;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VT.

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 43/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Thanh Huyền -VPQĐTGGT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger