Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Thắm;
  • Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trịnh Văn V, sinh năm 1993 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973; bị cáo có 02 anh em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2005; có vợ là bà Lê Thị Thái L, sinh năm 1995 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 04/3/2024, bị Ủy ban nhân dân phường M xử phạt hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 369/QĐ-UBND. Chấp hành xong ngày 10/6/2024.

Ngày 15/12/2024, bị khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Tô Vĩnh K, sinh năm 1986; nơi thường trú: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1972; nơi thường trú: Ấp V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Văn V là công nhân của Công ty TNHH Đ1 (địa chỉ: Đường N, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương) và có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản.

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 14/12/2024, sau khi tan ca (đi làm về), V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 67E1-298.70 đến Cửa hàng rau củ quả M (địa chỉ: Đường N, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) do ông Tô Vĩnh K và bà Lê Thị Thanh T (sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) làm chủ, để mua rau, củ về phòng trọ nấu ăn. Trong lúc mua hàng, V nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh của ông K để trên máy in tại quầy tính tiền. Lúc này, ông K đang buôn bán nên không chú ý. Vàng nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên lén lút đến nơi để điện thoại dùng tay trái lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh cất giấu vào túi quần bên trái của V đang mặc rồi thanh toán tiền mua hàng và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 67E1-298.70 về nhà trọ K1. Về đến phòng trọ, V lấy điện thoại di động từ trong túi quần ra, tắt nguồn và cất giấu dưới gối trên kệ gỗ trong phòng trọ.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, ông K phát hiện điện thoại di động bị mất nên mở định vị điện thoại di động kiểm tra phát hiện tại vị trí phòng trọ số A, nhà T tại đường D thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Ông K đi đến phòng trọ và gặp V. Ông K đưa đoạn camera có hình ảnh của V cho V xem thì V thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại di động của ông K và giao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh tại vị trí dưới gối trên kệ trong phòng trọ cho ông K. Sau đó, ông K trình báo sự việc đến Công an phường T.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh.
  • 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trịnh Văn V.
  • 01 xe mô tô biển số 67E1-298.70 nhãn hiệu Yamaha màu xanh.

Kết luận định giá tài sản số 162/KL-HĐĐGTS ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, dung lượng 256GB, đã qua sử dụng trị giá 8.030.000 đồng.

Quá trình điều tra, Trịnh Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của Trịnh Văn V phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trịnh Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/02/2025.

Tại phần tranh luận:

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát theo Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/02/2025 đối với bị cáo Trịnh Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn V từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/12/2024, tại Cửa hàng R thuộc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương, Trịnh Văn V có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, dung lượng 256GB, đã qua sử dụng trị giá 8.030.000 đồng của ông Tô Vĩnh K nhằm mục đích bán kiếm tiền tiêu xài và nạp game.

Hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tính chất: Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại đã lén lút chiếm đoạt là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi giao trả cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo từng bị Ủy ban nhân dân phường M xử phạt hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 369/QĐ-UBND ngày 04/3/2024 đã chấp hành xong ngày 10/6/2024. Sau lần xử phạt này, bị cáo không rút ra được bài học, tu dưỡng đạo đức, cải tạo bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, cần cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, dung lượng 256GB. Ngày 25/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả điện thoại này cho bị hại ông Tô Vĩnh K, ông K không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 67E1-298.70 do ông Trịnh Văn H đứng tên chủ sở hữu. Ông H là ba của V. Khoảng đầu tháng 01/2024, ông H cho V mượn xe này để làm phương tiện đi lại. Ông H không biết việc V sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên ngày 04/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 67E1-298.70 cho ông H là có căn cứ.

Đối với 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trịnh Văn V. Giấy này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên ngày 10/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trịnh Văn V cho V là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn V 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 15/12/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trịnh Văn V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo V phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger