Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai.
  2. Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Huỳnh Việt L, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 15/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh T; sinh ngày 25 tháng 12 năm 1981 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Tổ D, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1; và bà Phùng Thị N; có vợ Cao Thị D (đã chết), chưa có con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Đã chết.

Người đại diện bị hại: Ông Trần Quang T2, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Hợp tác xã T5; địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nông Ngọc L1, Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Cao Trung K, địa chỉ: Tổ D, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Quang T2, sinh năm 1965, địa chi: Tổ P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Văn L2.
  • - Anh Trần Quốc S.
  • - Anh Nguyễn Văn T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh T (Là người có giấy phép lái xe hạng C có giá trị đến ngày 22/11/2026). T là nhân viên lái xe theo hợp đồng thuê lái xe với Hợp tác xã T5 (địa chỉ: Tổ B, phường P, thành phố T), thời hạn hợp đồng từ ngày 01/7/2024 đến ngày 31/6/2025.

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 14/7/2024, Nguyễn Minh T điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu nhãn hiệu CNHTC, BKS: 20C-114.39, trên xe có phụ xe là anh Nguyễn Văn L2 (Sinh năm 1973; HKTT: Xóm H, xã H, thành phố T) đi trên đường Quốc lộ 3 theo hướng từ huyện P đi đảo tròn T, thành phố T. Khi đi đến khu vực Km 75+300 đảo tròn T đoạn thuộc thuộc tổ H, phường T, thành phố T, T điều khiển xe ô tô BKS: 20C-114.39 chuyển hướng rẽ phải vào đường cao tốc CT07. Do không chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn khi chuyển hướng rẽ phải nên T không phát hiện thấy bà Trần Thị H (Sinh năm 1970, nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên) đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA CLICK, BKS: 30H4-5640 đi ở phía trước cùng chiều dẫn đến phần đầu phía bên phải xe ô tô BKS: 20C-114.39 đâm va vào đuôi xe mô tô BKS: 30H4-5640 làm bà H và xe mô tô bị cuốn vào gầm xe tải. Phần bánh lốp của xe ô tô tải đè lên người bà H. Sau tai nạn, người dân phát hiện sự việc đã đưa bà H đến Bệnh viện A cấp cứu và báo Công an thành phố T đến giải quyết theo quy định.

Hậu quả:

  • - Bà Trần Thị H bị đa thương tích. Gãy cung trước xương sườn 2,3,4,5,6,7,8,9,10 bên trái; gãy cung trước xương sườn 3,4,5,6,7,8 bên phải; hai phổi bị dập rách rải rác; khoang ngực có máu không đông; trong bụng có máu không đông, dập các tạng trong ổ bụng; dập nát động tĩnh mạch đùi trái; bà H tử vong trên đường đi cấp cứu.
  • - 02 phương tiện là xe ô tô tải có cần cẩu nhãn hiệu CNHTC, BKS: 20C-114.39 và xe mô tô nhãn hiệu HONDA CLICK, BKS: 30H4-5640 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định như sau:

Hiện trường chung: Là đoạn đường giao nhau có vòng xuyến thuộc chiều đường B - Thái Nguyên. Bên phải đường là đường CT07, mặt đường được trải nhựa áp phan phẳng. Đường rộng tính từ mép đường phía chiều Bắc Kạn – Thái Nguyên đến mép đường tròn và 28,0m.

Xác định điểm mốc cố định là cột điện số 222 TBA T và tâm đường tròn; chọn mép đường nhựa bên phải chiều Bắc Kạn - Thái Nguyên làm mép đường chuẩn; sử dụng phép đo hình chiếu vuông góc và đo trực tiếp.

  • + Ký hiệu (1) trên hiện trường là xe ô tô tải BKS: 20C-114.39 đang đỗ trên đường, đầu xe quay hướng Thái Nguyên chếch chéo bên phải đi hướng CT07. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải (1) đến mép đường chuẩn là 9,8m. Đo từ tâm trục bánh sau cùng bên phải (1) đến mép đường chuẩn là 8,9m .
  • + Ký hiệu (2) trên hiện trường là vết trược xước trên mặt đường có kích thước (5,9x1,0)m có chiều hướng Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đo từ điểm đầu (2) đến mép đường chuẩn là 11,0m. Điểm cuối (2) ở dưới xe mô tô BKS: 30H4-5640.
  • + Ký hiệu (3) là xe mô tô BKS: 30H4-5640 đổ nghiêng bên phải xuống mặt đường, đầu xe quay hướng Bắc Kạn. Đo từ tâm trục bánh trước (3) đến mép đường chuẩn là 11,2m. Đo từ tâm trục bánh sau (3) đến mép đường chuẩn là 11,4m.
  • + Ký hiệu (4) trên hiện trường là vùng máu loang trên mặt đường kích thước (1,1x0,5)m. Đo từ tâm (4) đến mép đường chuẩn là 11,9m.
  • + Ký hiệu (5) trên hiện trường là vết trượt màu đen trên mặt đường có kích thước (1,0 x 0,5)m có chiều hướng Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đo từ điểm đầu (5) đến mép đường chuẩn là 9,3m. Đo từ điểm cuối (5) đến mép đường chuẩn là 9,3m.
  • + Ký hiệu (6) trên hiện trường là vết trượt màu đen trên mặt đường có kích thước (1,0x0,5)m có chiều hướng Bắc Kạn - Thái Nguyên. Đo từ điểm đầu (6) đến mép đường chuẩn là 11,6m. Đo từ điểm cuối (6) đến mép đường chuẩn là 11,6m.

- Đo trực tiếp từ cột điện số 222 TBA T đến tâm trục bánh lốp ngoài cùng bên phải trục sau cùng trục (4) của (1) là 24,7m. Đo trực tiếp từ tâm đường tròn đến tâm trục bánh trước trục (1) bên phải là 31,2m. Đo trực tiếp từ mép ngoài cùng đường tròn đến tâm trục bánh trước trục (1) bên phải của (1) là 15,0m. Đo từ trục bánh trước bên phải trục (1) của (1) đến điểm đầu của (2) là 5,0m. Đo từ điểm đầu của (2) đến tâm trục bánh trước của (3) là 4,4m. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải trục (1) của (1) đến tâm trục bánh sau của (3) là 0,45. Đo từ tâm trục bánh sau của (3) đến tâm của (4) là 0,8m. Đo từ điểm đầu của (2) đến điểm đầu của (5) là 2,3m. Đo từ điểm đầu của (2) đến điểm đầu của (6) là 2,3m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn là xe ô tô tải có cần cẩu nhãn hiệu CNHTC, BKS: 20C-114.39, trên xe có các dấu vết (BL 46-47):

1. Dấu vết trên phương tiện

  • - Góc phái trước bên phải của ba đờ sốc trước có 01 vùng nứt vỡ nhựa chùi sạch vùng bẩn bám dính vật chất màu nâu đỏ kích thước (14,5x9)cm. Dấu vết có chiều từ trước về sau. Đo điểm thấp nhất và cao nhất của vùng này đến mặt đất lần lượt là 74cm và 83cm.
  • - Góc phía trước bên phải phía trên của biển số trước bị xước kim loại, rách nilon bên ngoài kích thước (8,5x2,5)cm.
  • - T4 sắt si phía trước (phía đuôi đầu xe) có một vùng mài xước kim loại kích thước (60x5)cm
  • - Toàn bộ sườn xe hai bên và phía sau xe không có dấu vết do va chạm.

2. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Các bánh lốp còn hơi; hệ thống phanh, còi, đèn còn hiệu lực.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tại nạn là xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, BKS: 30H4-5640, trên xe có các dấu vết.

1. Dấu vết trên phương tiện: Càng trước hai bên bị gãy rơi kim loại; chắn bùn trước, cánh yếm phía trước hai bên, mặt nạ trước, ốp nhựa đầu xe bị mài xước, nứt vỡ nhựa toàn bộ; hộp đồng hồ công tơ mét bị bung bật khớp nối, gẫy vỡ nhựa toàn bộ; khung tay lái phía trước bên phải bị cong gập theo chiều từ trên xuống, từ trước về sau; toàn bộ phần để chân trước, cánh yếm hai bên, ốp nhựa sườn xe hai bên bị mài xước, nứt vỡ nhựa, biến dạng kim loại, bám dính bùn đất; ốp bảo vệ ống xả bên phải bị mài xước, nứt vỡ nhựa toàn bộ; yên xe bị bung bật khớp nối; ốp bảo vệ cụm đèn chiếu sáng phía sau và xi nhan phía sau bên trái có một vùng mài xước nhựa bám dính chất bột màu trắng nghi là sơn kích thước (12x3)cm, đo khoảng cách thấp nhất và cao nhất của dấu vết đến mặt đất lần lượt là 71cm và 76cm. Tay xách sau bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, trên bề mặt phía sau, bên trái có vùng mài xước bám dính chất màu trắng kích thước (0,4x0,1)cm.

2. Kỹ thuật an toàn phương tiện: 02 (Hai) bánh lốp còn hơi; hệ thống phanh, còi, đèn bị hư hỏng

* Tại bản kết luận giám định tử thi số 895/KLGĐTT-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận.

  1. Các kết quả chính: Gãy nhiều xương sườn hai bên. Hai phổi bị dập, rách rải rác. Khoang ngực có máu không đông. Ở bụng có nhiều máu không đông. Dập các tạng trong ổ bụng. Dập, nát động tĩnh mạch đùi trái.
  2. Kết luận: Trần Thị H bị đa chấn thương: Chấn thương ngực kín, gãy nhiều xương sườn hai bên, dập rách hai phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực; chấn thương bụng kín, dập các tạng trong ổ bụng, chảy tụ máu trong ổ bụng; dập nát động tĩnh mạch đùi trái gây suy tuần hoàn, suy hô hấp dẫn đến chết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành thu mẫu máu của Nguyễn Minh T và mẫu vật chất trên vô lăng của xe ô tô tải BKS: 20C114.39 để tiến hành giám định, kết quả: Tại bản kết luận giám định ADN số HT367.24/PY-XNSH ngày 19/7/2024 của V - Cục Q kết luận: Dấu vết trên mảnh bông thu mẫu vật chất tại vô lăng của xe ô tô tải BKS: 20C-114.39 (ký hiệu M1) gửi giám định có sinh phẩm của người, có ADN nhiễm sắc thể trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu máu của Nguyễn Minh T (ký hiệu M2).

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 138/KL-HĐĐGTS ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận.

  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu CNHTC, số loại CL, loại xe tải có cần cẩu, BKS: 20C-114.39; Tình trạng đã qua sử dụng, xe bị hư hỏng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm định giá ngày 14/7/2024 là: 2.000.000 đồng.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, BKS: 30H4-5640. Tình trạng đã qua sử dụng, xe bị hư hỏng. Giá trị thiệt hại tại thời điểm định giá ngày 14/7/2024 là: 4.500.000 đồng.

Ngày 14/7/2024, phòng C Công an tỉnh T tiến hành kiểm tra nồng độ cồn và lấy mẫu máu xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Minh T, kết quả nồng độ cồn 0,00mg/L và âm tính với chất ma túy.

Căn cứ các tài liệu quá trình điều tra thu thập được, xác định nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ trên là do Nguyễn Minh T điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu BKS: 20C-114.39 chuyển hướng rẽ phải nhưng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn cho các phương tiện khác dẫn tới đâm va vào xe mô tô BKS: BKS: 30H4-5640 do bà Trần Thị H điều khiển đi bên phải cùng chiều gây tai nạn khiến bà H tử vong.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Minh T khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như nêu trên. Theo T khai nhận khi T điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu BKS: 20C-114.39 đi trên trục đường hướng từ tỉnh Bắc Kạn đi đảo tròn T chuẩn bị rẽ phải để nhập làn rẽ vào cao tốc 07 thì có bật xi nhan và di chuyển với tốc độ khoảng 20-25km/h. Khi đang chuẩn bị chuyển hướng, T quan sát qua gương chiếu hậu thấy xe mô tô của bà Trần Thị H đang di chuyển song song với phần giữa thân xe ô tô của T. Do chủ quan nghĩ rằng bà H đã vượt qua xe ô tô của T nên T không tập trung chú ý quan sát phía trước đầu xe mà cho xe tiếp tục chuyển hướng rẽ phải. Trong khi đang chuyển hướng thì phần đầu xe ô tô của T đâm va vào phần đuôi xe mô tô của bà H gây tai nạn khiến bà H tử vong như nêu trên

Lời khai của Nguyễn Minh T phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ và biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm dấu vết các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y về tử thi, kết luận giám định ADN, kết luận định giá tài sản, lời khai người làm chứng và các tài liệu điều tra khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (Một) xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC, số loại CL, loại xe: Tải có cần cẩu, màu sơn: Trắng; BKS: 20C-114.39; Số khung: XSF3EA797629; Số máy: 140817000047; tình trạng đã qua sử dụng, xe bị hư hỏng; 01 (Một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 021014, mang tên chủ xe: Hợp tác xã T5, biển số đăng ký: 20C-114.39; 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định số: EB 0541276 đối với xe ô tô BKS: 20C-114.39, có hiệu lực đến ngày 23/10/2024; 01 (Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự số DK23/0327643 của xe ô tô BKS: 20C-114.39, thời hạn bảo hiểm đến ngày 04/11/2024. Hiện số vật chứng trên đã trả lại cho Hợp tác xã T5 quản lý và sử dụng.
  • - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, BKS: 30H4-5640, tình trạng đã qua sử dụng, xe bị hư hỏng. Đăng ký xe mang tên bà Trần Thị Tố U; Địa chỉ: A T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra xác định bà U là em gái của ông Trần Quang T2 (Sinh năm 1965; HKTT: Tổ dân phố P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, là chồng bà H). Khoảng tháng 5/2024, bà U có tặng chiếc xe trên cho gia đình ông T2 để sử dụng đi lại. Hiện chiếc xe trên đã trả lại cho ông T2 là chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng.
  • - 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng C có giá trị đến ngày 22/11/2026, số [...] mang tên Nguyễn Minh T. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Minh T đã bồi thường cho gia đình bà Trần Thị H số tiền 170.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà H là ông Trần Quang T2 đã nhận tiền, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Đại diện Hợp tác xã T5 không yêu cầu đề nghị gì về thiệt hại của chiếc xe xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC, BKS: 20C-114.39. Phần dân sự trong vụ án đã giải quyết xong.

Cáo trạng số 19/CT-VKSTPTN ngày 11/01/2025 của Viện kiểm sát nhân thành phố T đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo và các đương sự có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (đã có đơn xin xét xử vắng mặt), người làm chứng. Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt; việc Tòa án xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng này theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 14/7/2024, Nguyễn Minh T (Là người có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu BKS: 20C-114.39 đi trên đường Quốc Lộ 3 theo hướng từ huyện P đi đảo tròn T, thành phố T. Khi đi đến khu vực Km 75+300 đảo tròn T đoạn thuộc thuộc tổ H, phường T, thành phố T, T điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ phải để đi vào đường cao tốc CT 07. Do không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn dẫn đến phần đầu xe bên phải ô tô tải do T điều khiển đâm va vào phần đuôi bên trái xe mô tô BKS: 30H4-5640 do bà Trần Thị H điều khiển đi bên phải gây tai nạn. Hậu quả: Cùng ngày, Bà H bị tử vong trên đường đi cấp cứu.

Sau khi sự việc xảy ra, T đã bồi thường cho gia đình bà Trần Thị H số tiền 170.000.000 đồng, đại diện gia đình bà H là ông Trần Quang T2 đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Phần dân sự trong vụ án đã giải quyết xong.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Minh T đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Điều luật quy định:

Điều 15. Chuyển hướng xe.

“2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.

Đối chiếu với pháp luật hình sự, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 05 năm:

a, L3 chết người”

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác.

[5] Nhân thân: Bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.

[6] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của người khác. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt; bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo luôn chấp hành tốt và thực hiện đầy đủ quy định, chính sách của nhà nước, của địa phương; bị cáo đang sinh sống và nuôi mẹ già trên 70 tuổi; bố đẻ và vợ con bị cáo đều đã chết, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, được tổ dân phố và Ủy ban nhân dân phường C xác nhận. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Xét thấy không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có nghề nghiệp chính là lái xe, đây là nguồn thu nhập duy nhất của bị cáo và gia đình; do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[9] Biện pháp tư pháp:

  • - Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thực hiện xong. Đại diện gia đình bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Minh T.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Nguyễn Minh T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số [...] mang tên Nguyễn Minh T, có giá trị đến ngày 22/11/2026; tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 90 ngày 04/02/2025 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

3. Án phí: Bị cáo T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với đại diện bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại; bị đơn dân sự;
  • Người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Linh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Mai Hoa – Nguyễn Thị Thúy Mai

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger