Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Ông Nguyễn Nam Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 338/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Trung H, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày:

Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 04/04/2012. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến đời sống tình cảm lạnh nhạt, hạnh phúc gia đình không có. Mặc dù gia đình hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng 06 năm, anh C không biết chị H sinh sống tại địa chỉ nào. Nay xác định tình cảm không còn, anh C đề nghị Toà án cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Trung H.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H có 02 con chung là cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 23/07/2012 và cháu Nguyễn Trâm A1 sinh ngày 07/5/2014. Khi ly hôn, anh C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trâm A1, giao cháu Nguyễn Vân A cho gia đình chị H nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con anh C xin được tự thỏa thuận với chị H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị Trung H:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Vũ Thị L - là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Trung H. Tòa án đã thông báo cho bà Vũ Thị L cung cấp địa chỉ cụ thể của chị Nguyễn Thị Trung H ở Cộng hòa liên bang Đ và yêu cầu bà Vũ Thị L cho biết kết quả về việc thông báo cho chị Nguyễn Thị Trung H để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn C cho Tòa án.

Tại Đơn đề nghị ngày 08/01/2025, bà L trình bày bà vẫn liên lạc qua điện thoại và mạng xã hội với chị H nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể chị H ở đâu. Bà đã thông báo cho chị H về yêu cầu của Tòa án, tuy nhiên chị H không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án. Chị H đã biết việc anh C xin ly hôn, chị H đồng ý ly hôn với anh C, đề nghị xin được nuôi cháu Vân A và giao cháu Trâm A1 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung.

Quan điểm của bà Vũ Thị L như sau: Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H kết hôn tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 04/04/2012. Sau khi kết hôn một thời gian vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến đời sống tình cảm lạnh nhạt, hạnh phúc gia đình không có. Hai vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm. Bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho anh C được ly hôn với chị H theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H có 02 con chung là cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 23/07/2012 và cháu Nguyễn Trâm A1 sinh ngày 07/5/2014. Cháu Vân A ở cùng gia đình bà L từ nhỏ, còn cháu Trâm A1 ở cùng anh C, đề nghị Tòa án giao cháu Trâm A1 cho anh C, giao cháu Vân A cho chị H nuôi dưỡng, gia đình bà sẽ thay chị H chăm sóc cháu Vân A trong thời gian chị H làm việc tại Đức.

Tại Công văn số 4982/PA08(Đ1) ngày 31/12/2024 của Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố H thể hiện: Chị Nguyễn Thị Trung H đã xuất cảnh gần nhất ngày 03/6/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H đều vắng mặt, anh Nguyễn Văn C xin xét xử vắng mặt.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho anh Nguyễn Văn C được ly hôn với chị Nguyễn Thị Trung H. Về con chung, anh C và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 23/07/2012 và cháu Nguyễn Trâm A1 sinh ngày 07/5/2014, đề nghị Hội đồng xét xử giao cả 02 con chung cho anh C nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung anh C xin tự giải quyết với chị H nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Về tài sản chung, anh C không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn C có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị Trung H. Quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn là chị Nguyễn Thị Trung H có đăng ký hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống ở Cộng hòa liên bang Đức, nguyên đơn anh Nguyễn Văn C hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Anh Nguyễn Văn C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Trung H đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị Nguyễn Thị Trung H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 04/04/2012. Theo Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Dù hai bên gia đình đã khuyên bảo, hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn. Nay vợ chồng ly thân không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh C và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn C về việc xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Trung H.

[4] Về con chung: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H có 02 con chung là cháu Nguyễn Vân A, sinh ngày 23/07/2012 và cháu Nguyễn Trâm A1 sinh ngày 07/5/2014. Xét thấy, cháu Nguyễn Trâm A1 có nguyện vọng được ở với bố là anh C, cháu Nguyễn Vân A có nguyện vọng được ở với mẹ và bà ngoại; anh C và chị H đều đề nghị anh C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trâm A1, chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vân A. Tuy nhiên, hiện nay chị H đang sinh sống tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể, do đó không có đủ căn cứ thể hiện chị đảm bảo có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Mặt khác, hiện nay anh C đang có nơi sinh sống và thu nhập ổn định tại Việt Nam, đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc con chung. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao 02 con chung là cháu Nguyễn Vân A và Nguyễn Trâm A1 cho anh C nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh C về việc tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn C là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị Trung H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn C ly hôn với chị Nguyễn Thị Trung H.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên là Nguyễn Vân A, sinh ngày 23/07/2012 và cháu Nguyễn Trâm A1 sinh ngày 07/5/2014 cho anh Nguyễn Văn C nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn C về việc tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000917 ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Văn C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Anh Nguyễn Văn C (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Chị Nguyễn Thị Trung H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng ThúyNguyễn Nam TuấnBùi Thị Thúy Hà

DANH SÁCH GỬI THỪA PHÁT LẠI

( Bản án HNGĐST số 43/27.02.2025 - C)

Niêm yết tại nhà và UB cho:

Chị Nguyễn Thị Trung H, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng.

Người gửi: Trần Thị Thu H1 - 0966.287.269

DANH SÁCH GỬI THỪA PHÁT LẠI

( Bản án HNGĐST số 43/27.02.2025 - C)

Niêm yết tại nhà và UB cho:

Chị Nguyễn Thị Trung H, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng.

Người gửi: Trần Thị Thu H1 - 0966.287.269

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger