|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lực
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Quang Minh
2. Ông Lò Văn Chiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS, ngày 05 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn P; Tên gọi khác: Không có, sinh ngày: 24/10/1968 tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 02/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Lò Văn T, sinh năm 1945, Mẹ đẻ: Nông Thị L, sinh năm 1946; Vợ: Trần Thị M, sinh năm 1968; Bị cáo có 03 con; Con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2024 đến ngày 22/9/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Từ ngày 30/10/2024 chuyển đến tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu.
* Những người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
- + Ông Nông Văn K, sinh năm 1982, trú tại bản Huổi Én, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu (tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, vắng mặt)
- + Ông Đèo Văn P1, sinh năm 1991, trú tại bản Nà Củng, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu (tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 16/9/2024, Lò Văn P sinh ngày 24/10/1968, trú tại thôn T, xã M, huyện P đang đi trên đường thuộc thôn T, xã M thì gặp Nguyễn Văn P2, sinh năm 1973 là người cùng thôn T. Quá nói chuyện, P mua của P2 01 gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu xanh giá 400.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Mua được H, P đi vào bụi cây ven đường cấu một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, P mang về cất giấu ở ngoài đường gần cổng nhà P, không cho ai biết.
Khoảng 09 giờ ngày 19/9/2024, Lò Văn P đang ở nhà mình tại thôn T, xã M, huyện P thì có Nông Văn K, sinh năm 1982, trú tại bản Huổi Én, xã M, huyện P đến hỏi mua Heroine để sử dụng. K đưa cho P 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, P nhận tiền rồi đi ra ngoài đường lấy gói Heroine chia thành 02 gói nhỏ (đều gói bằng mảnh nilon màu vàng). P cầm 01 gói Heroine mang về bán cho K rồi đi ra ngoài lát vỉa hè nhà mình. Mua được H, K tự ý đi vào nhà vệ sinh của P sử dụng hết bằng hình thức hít. Khi K sử dụng xong đi về thì Đèo Văn P1, sinh năm 1991, trú tại bản Nà Củng, xã M đến nhà P hỏi mua Heroine, P1 đưa cho P tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. P ra ngoài đường lấy gói Heroine còn lại bán cho P1. Nhận gói H, P1 xin P cho sử dụng tại nhà P, P đồng ý. Sau đó P1 đi vào nhà vệ sinh nhà P lấy 01 bật lửa, 01 mảnh giấy bạc có sẵn trong nhà vệ sinh, sử dụng tại chỗ hết số Heroine mua được. Hồi 09 giờ 30 phút ngày 19/9/2024, khi Đèo V vừa sử dụng xong Heroine thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh L đến kiểm tra, bắt quả tang P về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, thu giữ của P số tiền 700.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho K và P1 mà có); thu giữ của P1 01 mảnh nilon màu vàng, 01 bật lửa ga màu xanh và 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy. Sau khi bị bắt, Lò Văn P đã thừa nhận việc bán H cho Đèo Văn P1 và tự thú về hành vi bán Heroine cho Nông Văn K trước đó. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của P, quá trình khám xét không thu giữ gì.
Tại Kết luận giám định số 1093 ngày 25/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: tổng số tiền 700.000 đồng tiền Việt Nam gửi đến giám định là tiền thật.
Ngày 12/12/2024, Cơ quan điều tra phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tiến hành thực nghiệm điều tra, cho Lò Văn P diễn lại hành vi mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả: P đã thực hiện lại hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKSPT, ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn P về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lò Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1, khoản 3 Điều 256, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu cho cả 02 tội là từ 09 năm 03 tháng từ đến 10 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không có tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Lò Văn P đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 09 giờ ngày 19/9/2024, tại nhà ở thuộc quyền quản lý hợp pháp của Lò Văn P thuộc thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vào các thời điểm khác nhau Lò Văn P đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép 02 gói Heroine cho Nông Văn K và Đèo Văn P1 lấy tổng số tiền 200.000 đồng. Sau khi bán Heroine, P đồng ý cho P1 mượn nhà mình để sử dụng trái phép chất ma túy. Hồi 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi P1 vừa sử dụng xong Heroine tại nhà P thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L bắt quả tang, thu giữ của P số tiền 700.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng là tiền bán Heroine mà có; thu giữ của P1 01 mảnh nilon màu vàng, 01 bật lửa ga màu xanh và 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi “mua bán trái phép chất ma túy”, “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Điều luật quy định:
“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;”
“Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Lò Văn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau khi bị bắt, khi làm việc với cơ quan điều tra vào buổi chiều ngày 19/9/2024, bị cáo P và người làm chứng Nông Văn K cùng khai báo về hành vi bán trái phép chất ma túy trước đó của P đối với K, nhưng xét thấy thời gian khai báo của cả hai vào cùng buổi chiều, ở hai địa điểm khác nhau và với hai điều tra viên khác nhau, bị cáo P không biết việc K khai báo với cơ quan điều tra như thế nào do đó bị cáo Lò Văn P được xác định đã tự thú. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế; bố đẻ bị cáo là ông Lò Văn T có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để tiếp tục giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung.
[5] Về hỡnh phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 3 điều 256 Bộ luật hỡnh sự thỡ bị cỏo cú thể bị ỏp dụng hỡnh phạt bổ sung. Tuy nhiờn, theo cỏc tài liệu, chứng cứ cú trong hồ sơ và lời khai của bị cỏo tại phiờn tũa đều cho thấy bị cỏo là lao động tự do, thu nhập khụng ổn định, hoàn cảnh kinh tế khú khăn. Vỡ vậy, Hội đồng xột xử khụng ỏp dụng hỡnh phạt bổ sung đối với bị coo.
[6] Tình tiết liên quan đến vụ án:
- - Về nguồn gốc Heroine, Lò Văn P khai mua của Nguyễn Văn P2. Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa P2 với P, nhưng P2 không thừa nhận việc bán Heroine cho P. Ngoài lời khai của P, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Văn P2 trong cùng vụ án.
- - Đối với việc Nông Văn K và Đèo Văn P1 sử dụng Heroine tại nhà của Lò Văn P. P chỉ cho P1 mượn nhà của mình để sử dụng ma túy, còn K tự ý sử dụng và P không biết. Do vậy, Lò Văn P không phạm tội theo điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
- - Đối với hành vi Nông Văn K và Đèo Văn P1 mua Heroine của Lò Văn P để sử dụng. K và P1 đã sử dụng hết số Heroine mua được, do đó Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K và P1 là đúng quy định.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 mảnh nilon màu vàng, 01 bật lửa ga màu xanh và 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của Lò Văn P, hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện P: 200.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; 500.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo Lò Văn P cần trả lại cho bị cáo Lò Văn P.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; khoản 1, khoản 3 điều 256, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điều 55, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lò Văn P: 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2024.
Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Lò Văn P để đảm bảo cho việc thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu vàng, 01 bật lửa ga màu xanh và 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng, trả lại cho bị cáo Lò Văn P số tiền 500.000 đồng là trong tổng số tiền 700.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Lò Văn P, hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện P, tỉnh Lai Châu.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 06/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lực |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
