Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày 24-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết

Ông Nguyễn Thanh Hải

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Bùi Thị Thanh H, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số F đường H, phường C (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T (đã chết) và bà: Lê Thị M; bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/6/2024; chuyển tạm giam ngày 14/6/2024; có mặt;

2. Phùng Duy L, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A đường N, tổ dân phố L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Hữu A (đã chết) và bà Đàm Thị Lan H1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: 01 bản án đã được xóa án tích: Bản án số 70/2018/HSST ngày 29/11/2018 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/7/2024; chuyển tạm giam ngày 01/8/2024; có mặt;

3. Vũ Văn C, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1989 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Xóm B, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số I đường L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Phạm Thị D; bị cáo có vợ là Vũ Thị T2, sinh năm 1993 (đã ly hôn); có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: 02 tiền án chưa xoá:

  • Bản án số 20/2018/HSST ngày 18/9/2018 Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, ra trại ngày 30/08/2019;
  • Bản án số 128/2020/HSST ngày 10/09/2020 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 51 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ra trại ngày 07/01/2024.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/6/2024; chuyển tạm giam ngày 14/6/2024; có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Thanh H và bị cáo Phùng Duy L: Ông Nguyễn Văn C1 – Luật sư Văn phòng L1 và cộng sự, thuộc đoàn luật sư thành phố H; có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 05 phút ngày 11/6/2024, tại khu vực trước cửa nhà số H đường T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H bắt quả tang Vũ Văn C có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ tại chỗ C đứng 02 túi nilon chứa tình thể màu trắng và một ít tinh thể màu trắng vương vãi dưới chân C có tổng khối lượng là: 2,18gam. Ngoài ra còn thu của C 01 điện thoại Samsung, 01 xe mô tô BKS: 16R6 - 8126. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn C thu giữ: 01 bộ sử dụng ma túy đá tự chế; 09 vỏ túi nilon, 02 ống hút bằng nhựa vát đầu.

Ngay sau khi bị bắt Vũ Văn C đã khai ra hai đối tượng bán ma tuý cho C trong đó có một phụ nữ tên H trong ngõ B H, phường C (nay là phường A), quận L, thành phố Hải Phòng và một người nam giới tên Phùng Duy L ở phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Căn cứ vào lời khai của Vũ Văn C, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đã mở rộng điều tra vụ án khám xét, bắt giữ các đối tượng liên quan đến hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cụ thể:

Ngày 12/06/2024, Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Thị Thanh H. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H thu giữ 27 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 cân điện tử, nhiều vỏ túi nilon, 01 ống hút bằng nhựa, 01 thìa nhựa, 01 thẻ nhớ camera, 02 điện thoại Iphone của H.

Ngày 26/07/2024, Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phùng Duy L. Khám xét chỗ ở của L thu giữ 16 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 02 cân điện tử, 01 điện thoại OPPO, 01 điện thoại Nokia.

Tại các Bản kết luận giám định số 731/KL-KTHS ngày 14/06/2024, số 734/KL-KTHS ngày 14/06/2024 và số 914/KL-KTHS ngày 31/07/2024 của Phòng K5 Công an thành phố H đã xác định:

Tinh thể màu trắng thu giữ của Vũ Văn C có tổng khối lượng là 2,18 gam ma tuý loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng thu giữ của Bùi Thị Thanh H có 87,45 gam ma túy loại Methamphetamine và 10,92 phèn chua. Tinh thể màu trắng thu giữ của Phùng Duy L có 12,55 gam ma túy loại Ketamine, 0,54 gam Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn Công K nhận: Khoảng cuối tháng 5/2024, C đã nhiều lần đến nhà của Phùng Duy L mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời theo cách thức: Khi muốn mua ma tuý của L, C gọi điện cho L báo trước số tiền mua ma tuý và loại ma tuý cần mua, nếu L đồng ý bán thì C chuyển tiền từ tài khoản số 0378995856 của C mở tại ngân hàng M1 vào tài khoản của L, rồi đến nhà L nhận ma tuý mang về nhà trọ vừa sử dụng vừa bán cụ thể:

  • Lần 01: Khoảng 19 giờ ngày 20/5/2024, C chuyển 7.500.000 đồng vào tài khoản của L và đi đến nhà L nhận của L 01 túi nilon đựng khoảng 10 gam ma túy đá (Methamphetamine) và 10 viên ma túy hồng phiến mang về nhà trọ tại số I đường L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, không cân lại mà lấy luôn một ít ma túy đá, 10 viên ma túy hồng phiến ra sử dụng một mình. Khi đang sử dụng thì có một người đàn ông (C không biết lai lịch) gọi điện hỏi mua của C 6.500.000 đồng tiền ma túy đá. C đã bán số ma túy vừa mua của L sau khi C sử dụng một ít cho người đàn ông với giá 6.500.000 đồng tại khu vực gần nơi Công trọ.
  • Lần 02: Khoảng 21 giờ ngày 20/5/2024, C đã chuyển 6.500.000 đồng vào tài khoản của L và đến nhà L nhận 01 túi nilon chứa khoảng 10 gam ma túy đá mang về nhà trọ dùng cân kiểm tra thấy số ma túy đá vừa mua có khối lượng là 10 gam. Sau đó, C lấy một ít ma túy đá vừa mua ra sử dụng một mình. Khi đang sử dụng thì có một người đàn ông tên K1 nhà ở huyện V, thành phố Hải Phòng (C không biết lai lịch) gọi điện hỏi mua của C 10 gam ma túy đá. Công báo giá 8.500.000 đồng/10 gam ma túy đá. K1 đồng ý mua và hẹn C mang ma tuý đến khu vực chân C thuộc địa phận huyện A giao dịch mua bán ma tuý. C cầm túi ma túy đá vừa mua của L mà C đã sử dụng một ít đi đến điểm hẹn bản cho K1 với giá 8.500.000 đồng.
  • Lần 03: Khoảng 15 giờ ngày 21/5/2024, C chuyển 3.500.000 đồng vào tài khoản của L và đến nhà L nhận của L 01 túi nilon chứa khoảng 05 gam ma túy đá mang về nhà trọ, không cân lại mà lấy một ít ma túy đá ra sử dụng một mình. Khi đang sử dụng thì có một người đàn ông (C không biết lai lịch) gọi điện hỏi mua của C 3.500.000 đồng ma túy đá, C đồng ý và hẹn người đó đến khu vực gần nhà trọ của C để giao dịch. C đã bán số ma tuý mua của L sau khi C đã sử dụng một ít cho người đàn ông với giá 3.500.000 đồng.

Ngoài ra Công còn mua ma túy của H để sử dụng và bán kiếm lời, cụ thể:

Khoảng hơn 10 giờ ngày 11/6/2024, C gọi điện hỏi H mua 3.000.000 đồng ma túy đá. H đồng ý và bảo C đến nhà H để giao dịch. Sau đó, C đi xe máy BKS: 16R6 - 8126 đến nhà H chuyển 3.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của H mở tại ngân hàng H6. Công nhận của H 01 túi nilon đựng ma túy đá và đang mang về nhà trọ. Khi C đi đến trước cửa nhà số H đường T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng gần nhà Công trọ thì có người phụ nữ (không biết lai lịch) gọi điện thoại hỏi mua của C 500.000 đồng ma túy đá. C đồng ý và đứng lại chia ma tuý vừa mua sang 01 túi nilon đợi người phụ nữ đến để bán thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra. Thấy vậy, C đã dùng tay cấu rách 01 túi nilon đựng ma túy đá và ném toàn bộ số ma túy đá vừa mua xuống đường. Cơ quan Công an đã phát hiện thu giữ toàn bộ số ma túy của Công lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Phùng Duy L khai nhận: Do bản thân L chưa có việc làm ổn định, nên L nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Do đó, khi có ai hỏi mua ma túy, L lên mạng xã hội T3 tìm và mua ma túy để bán cho những người đã đặt mua. L đã bán ma tuý cho nhiều người không rõ lai lịch. Trong số những người mua ma tuý của L, L chỉ nhớ có một người tên là C nhà ở huyện V vì C là người nhiều lần mua ma tuý của L nhưng L cũng chỉ nhớ được số lượng ma tuý, loại ma tuý trong một lần bán cho Công cụ thể: Khoảng 21 giờ ngày 20/5/2024, C gọi điện hỏi mua của L 6.500.000 đồng ma túy đá. L đồng ý và bảo C chuyển tiền vào tài khoản của L. C đã chuyển 6.500.000 đồng vào tài khoản của L. Sau đó, L lên mạng xã hội T3 hỏi mua 10 gam ma túy đá của một người không quen biết. Người đó báo giá 5.000.000đồng/10 gam ma túy. L bảo người đó mang ma tuý đến khu vực gần nhà L để giao dịch. Một lúc sau có một người đàn ông (L không biết lai lịch) đến điểm hẹn bán cho L một túi ma tuý đá với giá 5.000.000 đồng. L cầm ma tuý về nhà cân lại thấy đủ 10 gam ma tuý đá. Sau đó, C đã đến nhà L nhận túi ma tuý đá mà L vừa mua rồi đi về.

L khai số ma tuý L bán cho C vào 19 giờ 00 ngày 20/5/2024 với giá 7.500.000 đồng và số ma tuý L bán cho C vào 15 giờ 00 ngày 21/5/2024 với giá 3.500.000 đồng, L cũng mua của những người đàn ông trên mạng Telegram, nhưng mỗi lần mua ma tuý là một người khác nhau. L không nhớ số lượng ma tuý và loại ma tuý đã bán cho C ở hai lần này. Mỗi lần mua ma túy, C đều chuyển tiền vào tài khoản của L.

Khoảng 20 giờ ngày 23/7/2024, L vào mạng xã hội Telegram hỏi mua của một người không quen biết 11.000.000 đồng ma túy Ketamine và ma túy đá để bán kiếm lời, người đó đồng ý. L hẹn người đó mang ma tuý đến khu vực gần nhà L để giao dịch. Một lúc sau thì có một người đàn ông (L không biết lai lịch) đến điểm hẹn và bán cho L 01 túi nilon chứa Ketamine và một túi nilon chứa ma túy đá với giá 11.000.000 đồng. L mang số ma tuý này về nhà lấy một ít ma túy đá ra sử dụng rồi dùng cân kiểm tra túi Ketamine thấy đủ 18,27 gam Ketamine. Tiếp đó, L chia Ketamine vào 20 túi nilon để bán. Đến rạng sáng ngày 25/7/2024, L đã bán được 05 túi Ketamine với giá 600.000đồng/1 túi cho hai người, số ma túy còn lại đã bị Cơ quan công an thu giữ khi khám xét.

Bùi Thị Thanh H khai nhận: H đã từng sinh sống với bạn trai là Chu Đức K2, sinh năm 1984, tại nhà của K2 ở phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng. Đến ngày 01/6/2024, K2 bị Công an quận K bắt về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Sau khi K2 bị bắt vẫn có một số người đến hỏi mua ma túy, nên H nảy sinh ý định mua ma túy để bán kiếm lời. Khoảng 13 giờ 00 ngày 09/6/2024, H đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 30.000.000 đồng ma túy đá. H mang ma tuý về nhà dùng ống hút bằng nhựa chia số ma túy vào các túi nilon rồi cất vào nhiều vị trí trong nhà để bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 11/6/2024, H đang ở nhà thì có C (là em xã hội của K2) gọi điện thoại hỏi mua của H 3.000.000 đồng ma túy đá. H bảo C đến nhà H để giao dịch mua bán ma tuý. Tại nhà H, C đã chuyển 3.000.000 đồng vào tài khoản của H. H đã đưa cho C 01 túi nilon đựng ma túy đá. Đến 19 giờ cùng ngày thì Cơ quan Công an đến nhà H khám xét khẩn cấp thu giữ toàn bộ số ma túy còn lại của H cất giấu tại các vị trí trong nhà.

Lời khai nhận tội của Vũ Văn C, Bùi Thị Thanh H, Phùng Duy L, phù hợp nhau, phù hợp với biên bản bắt người quả tang, biên bản khám xét, kết quả giám định, dữ liệu giao dịch tại tài khoản ngân hàng đã sao kê giữa C và L, giữa C và H. Mặc dù L khai trong 03 lần bán ma túy cho C thì chỉ có 01 lần L nhớ bán cho C 10 gam ma túy đá giá 6.500.000 đồng, còn 02 lần khác L không nhớ khối lượng và loại ma túy, nhưng L vẫn nhớ số tiền bán ma túy (C chuyển khoản vào tài khoản của L) nhưng căn cứ lời khai của C về việc 03 lần mua ma túy của L tổng cộng là 25 gam ma túy đá, phù hợp với số tiền C đã chuyển khoản cho L; đối với 10 viên thuốc lắc L bán cho C do C đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng và loại ma túy; do đó đủ căn cứ xác định khối lượng ma túy các bị can đã mua bán như sau:

  • Bùi Thị Thanh H mua bán tổng số 89,63 gam ma tuý Methamphetamine gồm 2,18 gam Methamphetamine H bán cho C và 87,45 gam ma túy Methamphetamine thu giữ của H.
  • Vũ Văn C nhiều lần mua bán trái phép tổng số 27,18 gam ma tuý Methamphetamine gồm: 25 gam ma tuý đá Methamphetamine mua của L và 2,18 gam Methamphetamine mua của H.
  • Phùng Duy L nhiều lần mua bán trái phép tổng số 25,54 gam Methamphetamine, 18,27 gam Ketamine (quy đổi thành 31,63 gam Methamphetamine) gồm : 25 gam ma tuý đá Methamphetamine bán cho C và 18,27 gam Ketamine mua ngày 23/07/2024 và 0,54 gam ma tuý đá thu giữ tại nhà L.

Đối với chiếc xe mô tô BKS: 16R6 – 8126 thu giữ của Vũ Văn C khi bắt quả tang, qua xác minh chiếc xe trên đăng ký tên Nguyễn Văn Q, ĐKNKTT: số F H, quận L, Hải Phòng. Nguyễn Văn Q khai đã bán chiếc xe cho một người đàn ông không nhớ lai lịch được 10 năm với giá 3.000.000 đồng, khi mua bán đã giao Đăng ký xe, không viết hợp đồng mua bán xe. Vũ Văn Công khai trước ngày bị bắt 02 ngày, C cho một người bạn xã hội tên C2 (không rõ lai lịch) vay 2.000.000 đồng, C2 để lại chiếc xe trên cho C cầm làm tin, sau đó không thấy C2 quay lại trả tiền lấy xe. C và C2 không viết giấy tờ vay tiền cầm xe, C cũng không nhận bất cứ giấy tờ gì liên quan đến chiếc xe. Khi cầm xe C2 nói là xe của C2, C không biết là xe phạm tội mà có. Tài liệu điều tra chưa xác định được chủ sở hữu chiếc xe vì vậy, Viện kiểm sát đã có công văn yêu cầu Cơ quan điều tra tách tài liệu liên quan và chiếc xe Moto BKS: 16R6 – 8126 trên tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Những vật chứng gồm: Số ma tuý còn lại sau khi giám định, 01 điện thoại S1, 02 điện thoại Iphone, 01 điện thoại OPPO, 01 điện thoại Nokia, 03 cân điện tử, 03 ống hút nhựa, 01 thìa nhựa, 01 thẻ nhớ camera, nhiều vỏ túi nilon chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.

Trong vụ án này còn có người phụ nữ bán ma tuý cho Bùi Thị Thanh H tại đường tàu Trần Nguyên H2, những người đàn ông bán ma tuý cho Phùng Duy L tại khu vực gần nhà trọ của L, những người mua ma tuý của Phùng Duy L, Vũ Văn C nhưng do C, L, H khai không biết lai lịch nên không có căn cứ để Cơ quan điều tra xác minh làm rõ xử lý.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKS-P1 ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phùng Duy L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Bùi Thị Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b, i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 14 đến 15 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Phạt tiền đối với bị cáo từ 10 – 15 triệu đồng.

Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Duy L từ 15 năm 06 tháng - 16 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Phạt tiền đối với bị cáo từ 10 – 15 triệu đồng.

Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thanh H từ 19 – 20 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Phạt tiền đối với bị cáo từ 15 – 20 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tịch thu, tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau khi giám định, 03 cân điện tử, 03 ống hút nhựa, 01 thìa nhựa, nhiều vỏ túi nilon.
  • Tịch thu sung ngân sách đối với 01 điện thoại Samsung, 02 điện thoại Iphone, 01 điện thoại OPPO, 01 điện thoại Nokia;
  • Trả lại bị cáo Bùi Thị Thanh H 01 thẻ nhớ camera.

- Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo C và H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố tại Cáo trạng của Viện Kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo L cho rằng chỉ bán ma túy cho C 01 lần với số lượng 10 gam Methamphethamine; những lần còn lại theo nội dung truy tố của Viện kiểm sát thực tế là các bị cáo thanh toán tiền nợ cá nhân cho nhau; bị cáo không có ý kiến gì về nội dung truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo H và bị cáo L có quan điểm: Thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng theo kết luận của đại diện Viện kiểm sát đối với hai bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo H nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu do đó mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo có phần hơi nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm có cơ hội trở về đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật

- Về tội danh và khung hình phạt:

[2] Từ ngày 09/6/2024 đến ngày 12/6/2024, Bùi Thị Thanh H có hành vi mua và cất giấu trái phép tổng số 89,63 gam ma tuý Methamphetamine. H đã bán cho Vũ Văn C 2,18 gam Methamphetamine, còn lại 87,45 gam ma túy Methamphetamine H chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an khám xét, thu giữ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo khẳng định chỉ bán ma túy cho C 01 lần; những lần giao dịch thanh toán khác qua tài khoản là xuất phát từ quan hệ vay nợ cá nhân của cả hai tuy nhiên bị cáo không có tài liệu chứng minh. Mặt khác, lời khai của bị cáo C trong suốt giải đoạn điều tra và tại phiên tòa đều thống nhất, phù hợp với sao kê tài khoản giao dịch chuyển tiwwnf giữa L và C. Do đó, đủ căn cứ khẳng định: Trong thời gian từ ngày 20/5/2024 đến ngày 25/7/2024, Phùng Duy L có hành vi nhiều lần mua bán trái phép 25,54 gam Methamphetamine, 18,27 gam Ketamine (tổng số ma túy quy đổi thành 31,63 gam Methamphetamine) L đã bán cho C 03 lần và bán cho nhiều người khác, số ma túy còn lại chưa kịp bán thì bị cơ quan Công an khám xét, thu giữ. hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4] Trong thời gian từ 20/5/2024 đến 11/6/2024, Vũ Văn C có hành vi nhiều lần mua bán trái phép tổng số 27,18 gam ma tuý Methamphetamine, C đã bán cho nhiều người, số ma túy còn lại là 2,18 gam Methamphetamine chưa kịp bán thì bị phát hiện, thu giữ. Bị cáo trước đó có 02 tiền án chưa được xóa, lần phạm tội này thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với các tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên”; “.. methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”; “tái phạm nguy hiểm” quy định tại các điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

[5] Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.

[6] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trị an ở địa phương và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Nhân thân bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo C có 02 tiền án chưa được xóa; bị cáo L có 01 tiền án tuy đã được xóa nhưng cũng thể hiện hai bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém.

[8] Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo C và H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đối với bị cáo L qua quá trình đấu tranh, làm rõ của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo đã thàn khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H và C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo L phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo nhằm tính chất thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Số ma tuý còn lại sau khi giám định, 03 cân điện tử, 03 ống hút nhựa, 01 thìa nhựa, nhiều vỏ túi nilon cần tịch thu, tiêu hủy;

[11] Đối với 01 điện thoại Samsung, 02 điện thoại Iphone, 01 điện thoại OPPO, 01 điện thoại Nokia thu giữ của các bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước;

[12] Đối với 01 thẻ nhớ camera thu giữ tại nhà của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

- Về án phí:

[13] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[14] Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, i, q khoản 2 (áp dụng đối với bị cáo Vũ Văn C); điểm b khoản 3 (áp dụng đối với bị cáo Bùi Thị Thanh H); điểm h khoản 3 (áp dụng đối với bị cáo Phùng Duy L), khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (áp dụng đối với bị cáo Phùng Duy L); Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị Thanh H, Phùng Duy L, Vũ Văn C, phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thanh H 18 (Mười tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2024.

Xử phạt bị cáo Phùng Duy L 15 (Mười lăm) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2024.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 13 (Mười ba) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2024.

Phạt bị cáo Bùi Thị Thanh H số tiền 10 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Phạt bị cáo Phùng Duy L số tiền 10 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Phạt bị cáo Vũ Văn C số tiền 10 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 phong bì niêm phong ma tuý còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 731MT/PC09 và có chữ ký của Phạm Hoàng H3, Nguyễn Văn C3, Nguyễn Thành T4 và Vũ Văn C;
  • 01 phong bì niêm phong ma tuý còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 734MT/PC09 và có chữ ký của Bùi Thị Thanh H, Nguyễn Thị K3, Hoàng Trọng N và Phạm Văn B;
  • 01 phong bì niêm phong vỏ túi nilon các mẫu KX1, KX2 và KX3 còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 3883/KL-KTHS và có chữ ký của Chu Minh K4 và Hoàng Trọng N;
  • 01 hộp giấy niêm phong vỏ túi nilon mẫu KX4 còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 734MT-A/PC09 và có chữ ký của Bùi Thị Thanh H, Nguyễn Thị K3, Hoàng Trọng N, Chu Minh K4 và Phạm Văn B;
  • 01 phong bì niêm phong ma tuý còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 914MT/PC09 và có chữ ký của Đỗ Thị H4, Phùng Duy L, Đỗ Hoàng C4 và Nguyễn Mạnh H5;
  • 01 phong bì niêm phong vỏ bao gói các mẫu KX01, KX02 còn lại sau giám định có dấu niêm phong số: 914MT-A/PC09 và có chữ ký của Đỗ Thị H4, Phùng Duy L, Đỗ Hoàng C4 và Nguyễn Mạnh H5;
  • 01 bộ sử dụng ma túy đá tự chế gồm 01 bình thủy tinh màu nâu, một đầu gắn nỏ thủy tinh một đầu gắn ống hút nhựa;
  • 01 ống nhựa cắt vát đầu dài khoảng 10cm, 01 ống nhựa cắt vát đầu dài khoảng 15cm, 01 ống nhựa cắt vát đầu dài khoảng 18cm;
  • Các vỏ túi nilon nhiều kích thước;
  • 01 cân điện tử màu ghi, 01 cân điện tử màu trắng, 01 cân điện tử màu đen không lắp pin;
  • 01 thìa nhựa.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng có số IMEI: 359021822884535 kèm theo 01 (một) sim in dãy số 8984048000931293907;
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng đã qua sử dụng có số IMEI: 353285073461931 kèm theo 01 (một) sim in dãy số: 89840200010718802218;
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone màu ghi đã qua sử dụng có số IMEI: 354385060577902;
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu ngọc trai đã qua sử dụng có số IMEII: 868057056865372, số IMEI2: 868057056865364 kèm theo 01 (một) sim in dãy số: 8401230224229342;
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu tím đã qua sử dụng có số IMEI1: 359192491370799, số IMEI2: 359192491370807 kèm theo 01 (một) sim in dãy số: 8401240313021601IDE.

- Trả lại bị cáo Bùi Thị Thanh H 01 thẻ nhớ (01 phong bì đựng thẻ nhớ nhãn hiệu HIKVSION 32G thu giữ tại của nhà Bùi Thị Thanh H, trên phong bì có ghi PC04 1935 A4).

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22 tháng 02 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Quyết

Nguyễn Thanh Hải

Nguyễn Mạnh Hà

Nơi nhận:

  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - Vụ 1 – TANDTC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - Trại tạm giam CATP;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HSST VŨ VĂN CÔNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger