Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày 18 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kăn Niê.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Long, bà Nguyễn Thị Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Y Khang Êban – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 18/02/2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/HSST, ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh B (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18/9/2003; tại: tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi thường trú: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H, sinh năm 1973 và bà Lê Thị M, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/11/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Ông Nguyễn Đức M1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số B đường A, thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1988. (Có mặt)

Địa chỉ: Hẻm D P, tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Ông Đỗ Đình T1, sinh năm 1980. (Có mặt)

Nơi thường trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi ở hiện tại: Làng K, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

3/ Bà Lê Thị M, sinh năm 1975. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh B là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, nên B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền mua ma tuý về sử dụng và tiêu xài cá nhân. Khoảng 17 giờ ngày 19/11/2024, B đến khu vực quảng trường 10 tháng 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì thấy trên vỉa hè đối diện khách sạn Biệt Điện ở địa chỉ số A P, phường T, thành phố B có xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, màu xanh, biển số 47B1 – 177.68 của ông Nguyễn Đức M1 đang dựng chân chống nghiêng, có cắm chìa khóa trên ổ khoá điện, đầu xe quay về hướng quảng trường, đuôi xe quay về hướng đường N, không có người trông coi. B đi đến, lén lút mở ổ khoá điện, nổ máy xe rồi điều khiển xe chạy về hướng đường P, thành phố B. Khi đi đến chùa K ở địa chỉ số A P, phường T, thành phố B thì B chạy xe vào dựng trong sân chùa. Sau đó, B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12, màu đen của B chụp hình ảnh chiếc xe rồi đăng nhập tài khoản Facebook tên “Bmt Chill” của B truy cập mạng xã hội Facebook tìm người mua xe thì thấy tài khoản Facebook tên “Đỗ Văn T2” của ông Đỗ Văn T có nhu cầu mua xe mô tô cũ. B liên lạc và gửi hình ảnh chiếc xe mô tô biển số 47B1 – 177.68 cho ông T xem và thoả thuận giá bán xe với ông T là 1.500.000 đồng. B với ông T hẹn đến địa chỉ số B P, phường T, thành phố B để xem xe. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, B gặp ông T cùng ông Đỗ Đình T1 (là anh ruột của ông T) tại địa chỉ đã hẹn trên rồi cùng nhau đến chùa K xem xe. Đến nơi, B vào bên trong chùa điều khiển xe ra giao xe cho ông T kiểm tra, ông T hỏi xe sao bán rẻ thì B nói dối là xe của vợ mất giấy tờ xe nên bán để trả tiền thuê trọ. Lúc này, ông T trả giá xe còn 1.300.000 đồng thì B đồng ý và viết 01 giấy bán xe và giao chiếc xe cho ông T lấy số tiền 1.300.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Ông T sau khi mua được xe đem về nhà kiểm tra cốp xe thì thấy có giấy tờ xe kèm sổ điện thoại của ông Nguyễn Đức M1 nên ông T liên lạc với ông M1 thì được biết chiếc xe trên của ông M1 bị người khác lấy trộm, nên ông T giao chiếc xe trên cho Cơ quan Công an điều tra xử lý. Đến ngày 20/11/2024, Cơ quan điều tra triệu tập B lên làm việc thì B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐGTS, ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Click, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 47B1 – 177.68, số máy: JF18E0299275, số khung: 1803AY876108, tài sản đã qua sử dụng, trị giá sản thu hồi được, trị giá: 4.500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKS-BMT ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Trần Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung bản cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản":

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Trần Thanh B từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 và 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, màu xanh, biển số 47B1 – 177.68, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 081590 mang tên Nguyễn Đức M1 của xe mô tô biển số 47B1 – 177.68 cho ông Nguyễn Đức M1 là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17K, màu đen, số Imei: 866155061394776 đã qua sử dụng cho ông Đỗ Văn T là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12, màu đen, số Imei: 865073041158651 đã qua sử dụng của bị cáo Trần Thanh B sử dụng làm phương tiện phạm tội.
  • - Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 giấy bán xe của người có tên Trần Thanh B, sinh năm 2003, số CCCD [...] (bản gốc).
  • - Đối với số tiền 1.300.000 đồng mà bà Lê Thị M (mẹ ruột của bị cáo Trần Thanh B) giao nộp tại Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả cho bị cáo Trần Thanh B, Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả số tiền trên cho anh Đỗ Văn T là người liên quan đến vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nào khác nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 19/11/2024, tại khu vực Quảng trường 10 tháng 3 thuộc địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo Trần Thanh B có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, màu xanh, biển số 47B1 – 177.68, số máy: JF18E0299275, số khung: 1803AY876108 đã qua sử dụng, trị giá 4.500.000 đồng của ông Nguyễn Đức M1 thì bị phát hiện và xử lý.

Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Trần Thanh B đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Thanh B không có tình tiết tăng nặng.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức để biết được rằng tài sản của Công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trộm cắp tài sản sẽ bị pháp luật trừng trị. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì bị phát hiện. Do đó, căn cứ vào các tình tiết của vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, màu xanh, biển số 47B1 – 177.68, đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 081590 mang tên Nguyễn Đức M1 của xe mô tô biển số 47B1 – 177.68 cho ông Nguyễn Đức M1 là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A17K, màu đen, số Imei: 866155061394776 đã qua sử dụng cho ông Đỗ Văn T là chủ sở hữu hợp pháp.

Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Đức M1, ông Đỗ Văn T là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập trong phần quyết định của bản án.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12, màu đen, số Imei: 865073041158651 đã qua sử dụng của bị cáo Trần Thanh B sử dụng làm phương tiện phạm tội.
  • - Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 giấy bán xe của người có tên Trần Thanh B, sinh năm 2003, số CCCD [...] (bản gốc).
  • - Đối với số tiền 1.300.000 đồng mà bà Lê Thị M (mẹ ruột bị cáo Trần Thanh B) giao nộp tại Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả cho bị cáo Trần Thanh B, Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả số tiền trên cho ông Đỗ Văn T là người liên quan đến vụ án là phù hợp nên cần chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về hành vi và các đối tượng liên quan:

Đối với ông Đỗ Văn T là người mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, màu xanh, biển số 47B1 – 177.68, số máy: JF18E0299275, số khung: 1803AY876108 đã qua sử dụng của bị cáo Trần Thanh B. Qua điều tra xác định ông T khi mua xe mô tô trên không biết xe là do bị cáo Trần Thanh B trộm cắp được mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Đỗ Văn T là phù hợp.

Đối với đối tượng nữ giới bán ma túy cho bị cáo Trần Thanh B sử dụng và nam thanh niên chạy Grap chở bị cáo Trần Thanh B đến chùa K để bán xe cho ông Đỗ Văn T. Qua điều tra đến nay, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này, nên Cơ quan điều tra tách hành vi của các đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Trần Thanh B, Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Thanh B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Thanh B: 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 20/11/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 và 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A12, màu đen, số Imei: 865073041158651 đã qua sử dụng của bị cáo Trần Thanh B sử dụng làm phương tiện phạm tội.
  • (Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/02/2025 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
  • - Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 giấy bán xe của người có tên Trần Thanh B, sinh năm 2003, số CCCD [...] (bản gốc).
  • - Chấp nhận Cơ quan điều tra đã xử lý bằng hình thức trả số tiền 1.300.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T từ bà Lê Thị M (mẹ ruột của bị cáo Trần Thanh B) giao nộp để khắc phục hậu quả.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bị cáo Trần Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP BMT;
  • - Công an Tp BMT;
  • - Chi cục THADS TP BMT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Y Kăn Niê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh Bình - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger