Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/DS-ST

Ngày: 13-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bảo Lâm;
  2. Bà Nguyễn Thị Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 592/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Đức N, sinh năm 1990; địa chỉ: 5 Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Triệu Thị Yến B, sinh năm 1995; địa chỉ: 5 L, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình giải quyết, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/7/2022, ông Hoàng Đức N có cho bà Triệu Thị Yến B vay số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng. Thực hiện hợp đồng, ông N đã chuyển khoản vào tài khoản của bà Triệu Thị Yến B số tiền 300.000.000 đồng vào ngày 21/7/2022 và 700.000.000 đồng vào ngày 22/7/2022.

Trong thời gian vay, bà Triệu Thị Yến B đã trả được số tiền 130.000.000 đồng vào hai ngày 21/7/2022 và 11/8/2022 - đây là một phần tiền lãi. Sau khi hết thời hạn vay, bà B chuyển cho ông N thêm số tiền 150.000.000 đồng vào hai ngày 24/8/2022 và 25/8/2022. Tổng số tiền bà B đã chuyển cho ông N tính đến ngày 08/01/2025 là 280.000.000 đồng. Từ đó đến nay, bà B luôn trốn tránh, vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền nợ gốc và lãi cho ông N.

Do đó, ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên buộc bà B phải trả lại cho ông số tiền nợ tạm tính đến ngày 08/01/2025 là 1.214.410.959 đồng, trong đó bao gồm: 1.000.000.000 đồng tiền nợ gốc, 247.205.479 đồng tiền nợ lãi và 247.205.479 đồng tiền chậm hoàn trả nợ gốc. Khấu trừ vào số tiền bà B đã trả là 280.000.000 đồng thì bà B còn nợ tiền lãi và tiền chậm hoàn trả gốc là 214.410.959 đồng.

Ngày 15/01/2025, ông N thay đổi yêu cầu khởi kiện, xác nhận cấn trừ số tiền 280.000.000 đồng mà bà B đã trả vào số tiền nợ gốc nên chỉ yêu cầu bà B trả số tiền nợ gốc là 720.000.000 đồng và kèm tiền lãi tạm tính từ ngày 25/8/2022 đến ngày 15/01/2025 là 168.000.000 đồng.

Bị đơn – bà Triệu Thị Yến B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.

Tại phiên tòa,

Phía nguyên đơn - ông Hoàng Đức N trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đã trình bày trước Tòa. Đề nghị Tòa án tuyên buộc bà Triệu Thị Yến B có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn lại là 720.000.000 đồng và số tiền lãi theo mức lãi suất 10 %/năm tính từ ngày 25/8/2025 đến ngày xét xử (làm tròn 02 năm 05 tháng) là 174.000.000 đồng. Yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Phía bị đơn - bà Triệu Thị Yến B vắng mặt không có lý do nên không rõ ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn - ông Hoàng Đức N khởi kiện yêu cầu bị đơn - bà Triệu Thị Yến B có nghĩa vụ trả số tiền đã cho vay. Đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Triệu Thị Yến B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn - bà Triệu Thị Yến B thanh toán số tiền nợ còn thiếu, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Giấy mượn tiền viết tay ngày 21/7/2022 ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn có nội dung: “...Điều 1: Số tiền vay: 1.000.000.000 VNĐ (Một tỷ đồng)...”, Điều 2 ghi:“Thời hạn cho vay 01 tháng kể từ ngày ký hợp đồng này...Phương thức nhận tiền chuyển khoản...”. Tại Sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ/báo có do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cấp cho khách hàng Hoàng Đức N, cũng thể hiện ông N đã chuyển khoản cho bà B số tiền 1.000.000.000 đồng trong 02 ngày (ngày 21/7/2022 chuyển 300.000.000 đồng, ngày 22/7/2022 chuyển số tiền 700.000.000 đồng). Bản sao kê này cũng thể hiện sau đó bà B đã nhiều lần chuyển khoản trả cho ông N tổng số tiền 280.000.000 đồng như ông N trình bày. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho bà B - bị đơn. Bị đơn biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến tranh chấp hay phản đối gì. Do đó, có căn cứ để xác định bị đơn còn nợ lại nguyên đơn số tiền nợ gốc là 720.000.000 đồng. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số nợ gốc vừa nêu là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 10%/năm tạm tính từ ngày 25/8/2022 đến thời điểm xét xử của nguyên đơn:

Theo Giấy mượn tiền ngày 21/7/2022, các bên thỏa thuận thời hạn cho vay là 01 tháng kể từ ngày ký hợp đồng và không có thỏa thuận về mức lãi suất. Do đó, Hội đồng xét xử xác định thời điểm bắt đầu tính lãi đối với khoản vay này là ngày 22/8/2022.

Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

  1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
  2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

  1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
  2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

    Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

  3. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Xét thấy, trong giấy vay tiền các bên không có thỏa thuận về lãi, thời hạn vay là 01 tháng nhưng nhưng quá thời hạn bị đơn không trả nợ. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất chậm trả 10%/năm kể từ thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền ngày 25/8/2022 là có lợi cho bị đơn và phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tính lãi này của nguyên đơn.

Số tiền lãi được tính như sau:

720.000.000 đồng x 10% x 02 năm 05 tháng = 174.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn tính đến ngày 13/02/2025 là 894.000.000 đồng, bao gồm: 720.000.000 đồng tiền nợ gốc và 174.000.000 đồng tiền nợ lãi.

[2.3] Về phương thức và thời hạn thanh toán, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị đơn trả một lần toàn bộ tiền nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật như phía nguyên đơn yêu cầu.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu tại phiên tòa về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí trên số tiền 894.000.000 đồng phải trả cho nguyên đơn. H lại cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Hoàng Đức N: Buộc bà Triệu Thị Yến B phải trả cho ông Hoàng Đức N số tiền nợ tạm tính đến ngày 13/02/2025 là 894.000.000 (Tám trăm chín mươi tư triệu) đồng (trong đó bao gồm: 720.000.000 đồng tiền nợ gốc và 174.000.000 đồng tiền nợ lãi) để chấm dứt nghĩa vụ trả nợ theo Giấy mượn tiền ngày 21/7/2022 mà các bên đã ký kết.
  2. Phương thức và thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần toàn bộ số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Tiền lãi được tiếp tục phát sinh kể từ ngày 14/02/2025 cho đến khi bà Triệu Thị Yến B trả hết nợ. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 38.820.000 (Ba mươi tám triệu, tám trăm hai mươi ngàn) đồng do bà Triệu Thị Yến B chịu.
  4. H lại cho ông Hoàng Đức N số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 24.616.434 (Hai mươi bốn triệu, sáu trăm mười sáu ngàn, bốn trăm ba mươi bốn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002105 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q.Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/DS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 43/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 21/7/2022, ông Hoàng Đức N có cho bà Triệu Thị Yến B vay số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng. Thực hiện hợp đồng, ông N đã chuyển khoản vào tài khoản của bà Triệu Thị Yến B số tiền 300.000.000 đồng vào ngày 21/7/2022 và 700.000.000 đồng vào ngày 22/7/2022.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger