|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2025/HS-ST | Sơn La. |
| Ngày 23-01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.
Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lèo Thị Chan.
2. Bà Trịnh Lan Anh.
3. Bà Quàng Thị Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Tiến L,
sinh ngày 14/5/1986 tại thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Nơi ĐKHKTT: T, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi tạm trú: Tiểu khu B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1955; Bị cáo có vợ là Quách Thị T, sinh năm 1991 và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 30/9/2024 đến nay “có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Tiến L: Ông Đàm Mạnh H1 - Luật sư, Đoàn Luật sư tỉnh S “có mặt”.
- Người bị hại: Anh Vũ Đức K1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Chị Quách Thị T. Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La “có mặt”.
- + Bà Nguyễn Thị Kiến . Địa chỉ: T, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La “có mặt”.
- Người làm chứng và có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan đến vụ án:
- + Chị Nguyễn Thị Ánh T1. Địa chỉ: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- + Anh Đinh Văn T2. Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La “có đơn xin xét xử vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 11/6/2024, Trần Tiến L cùng với Vũ Đức K1, Nguyễn Quang H2, Đinh Văn T2, Vũ Hữu T3, Mùi Văn T4 và một số thợ xây khác cùng ăn cơm, uống rượu tại nhà anh Phạm Đăng K2 ở tiểu khu T, thị trấn N, huyện M. Trong lúc ăn cơm, uống rượu K1 xảy ra mâu thuẫn với T2 về việc mời rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H2, K1 và L đi đến quán của chị Nguyễn Thị Ánh T1 (cách nhà anh K2 khoảng 100m) tiếp tục uống bia, ăn đêm và ngồi gần bàn uống nước trong quán. Một lúc sau, T4 điều khiển xe mô tô chở T2 đến ngồi ở bàn uống nước. Do trước đó có mâu thuẫn về vấn đề mời rượu nên K1 và T2 cãi nhau; K1 đi đến chỗ bàn uống nước và kéo T2 đi ra phía trước cửa quán, dùng tay đấm vào mặt T2 làm T2 bị rách da ở sống mũi chảy máu, T2 dùng tay đánh lại nhưng không trúng. Thấy vậy, Luật vào can ngăn thì bị K1 chửi và đấm một phát vào ngực, sau đó K1 và T2 không xô xát nữa. Do bị đánh, L đi đến hộp để dụng cụ làm việc của Luật tại mảnh đất trống cạnh quán bia lấy 01 (một) con dao dọc giấy bằng kim loại cất vào trong túi quần bên phải đang mặc với ý định nếu K1 còn chửi, đánh Luật nữa thì Luật sẽ dùng dao đâm K1. Sau đó, K1 và Luật vào trong quán để ăn đêm và uống bia với H2. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, vợ Luật là Quách Thị T gọi điện thoại cho L bảo Luật về nhà thì K1 nghe được và có những lời nói xúc phạm đến vợ của Luật. Luật nói lại với K1 “Anh không được nói thế”. Nghe vậy K1 kéo ghế đến ngồi sát bên cạnh Luật, dùng tay nắm vào cổ áo Luật và chửi, xúc phạm Luật. Bị K1 xúc phạm nên Luật cầm bát mỳ trên bàn hất vào mặt, ngực K1 làm bát rơi xuống nền nhà bị vỡ và đẩy K1 về phía sau rồi đứng dậy đi về phía trong quán; còn K1 đứng dậy, quay về phía Luật dùng tay túm vào áo Luật, L dùng tay phải lấy con dao dọc giấy ở trong túi quần ra dùng tay trái mở ốc khóa rồi đẩy lưỡi dao lên, sau đó vặn ốc khóa chặt lưỡi dao lại rồi tay phải cầm dao đâm một nhát trúng vào bụng K1. K1 đẩy Luật ra nhưng Luật tiếp tục lao vào dùng dao đâm trúng thêm một nhát vào bụng K1. K1 giằng co với Luật để tước con dao nhưng không được, K1 lùi về gần cửa quán thì bị vấp ngã. Lúc này, L tiếp tục áp sát, dùng dao đâm về phía K1 nhưng không trúng. Sau đó, K1 và L đứng dậy và tiếp tục giằng co với nhau, tay phải K1 cầm vào tay cầm dao của Luật thì L giật tay ra khiến lưỡi dao cứa vào ngón cái tay phải của K1. Khi ra đến sân trước cửa quán thì Khánh vật Luật ngã xuống rồi bỏ chạy, L đứng dậy không đuổi theo K1 mà đi về nhà. Thấy Luật rời đi, K1 quay lại quán và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, huyện M. Đến ngày 30/6/2024, Vũ Đức K1 có đơn trình báo đề nghị Công an huyện M, tỉnh Sơn La làm rõ vụ việc và xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng của vụ án thu giữ:
Chị Nguyễn Thị Ánh T1 giao nộp: 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu KIOXIA, có dung lượng 16 GB, bên trong có chứa 01 (một) đoạn video có hình ảnh, có màu, không có âm thanh.
Trần Tiến L giao nộp: 01 (một) cán dao dọc giấy bằng kim loại màu trắng, không rõ hình, kích thước 13 cm x 3,2 cm, không có lưỡi dao; ở giữa thiết kế rãnh kích thước 9,3 cm x 0,8 cm, trên rãnh có gắn ốc vặn bằng kim loại để điều chỉnh lưỡi dao; Một đầu cán dao thiết kế khe hở (dùng để gắn, thay lưỡi dao) kích thước 1,8 cm x 0,08 cm.
Hiện trường vụ án: Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 14 giờ 30 phút ngày 02/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sơn La, xác định: Hiện trường xảy ra tại quán B của chị Nguyễn Thị Ánh T1, thuộc tiểu khu T, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Hiện trường cụ thể là nhà chị T1 có tổng diện tích là 10m x 12m x 2m, nhà được chia thành hai phần. Phần thứ nhất là khu kinh doanh quán ăn có diện tích là 6,7m x 2,7m, trích xuất hình ảnh video mô tả diễn biến vụ việc xác định nơi xảy ra vụ việc gần bàn ăn thứ 2 (xung quanh bàn có 04 ghế ngồi) đến chỗ cửa phía trước. Phần thứ hai là khu sinh hoạt chung.
Ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sơn La đã tiến hành thực nghiệm điều tra cho bị cáo Trần Tiết L1 diễn tả lại toàn bộ hành vi phạm tội. Kết quả bị cáo Trần Tiến L diễn tả lại hành vi phạm tội, động tác đã thực hiện phù hợp với các vết thương để lại trên người bị hại Vũ Đức K1, phù hợp hình ảnh trong video và vật chứng đã thu giữ.
Ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành cho bị cáo Trần Tiến L nhận dạng con dao đã sử dụng để phạm tội, kết quả Trần Tiến L nhận dạng được con dao dọc giấy bằng kim loại mầu ghi bạc có chiều dài lưỡi dạo là 8 cm, cán dao dài 14 cm (có khóa đấy lưỡi dao lên), Luật sử dụng để đâm K1.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người số: 249/KL TTCT-TTPY, ngày 17/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh S đối với Vũ Đức K1, xác định: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Đức K1 tại thời điểm giám định là 54% (năm mươi bốn phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích sẹo vết thương bụng trên đường thẳng trên và dưới rốn, bụng bên phải do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn (dao mổ) trong thực hiện y lệnh cấp cứu gây ra; Thương tích sẹo vết thương bụng bên trái, thủng dạ dày, rách gan do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn gây ra; Thương tích vùng bụng tương ứng vị trí gan, dạ dày là vị trí trọng yếu của cơ thể, với thương tích này nếu không được cấp cứu kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong”.
Tại bản Kết luận giám định số: 1475/KL-KTHS, ngày 17/7/2024 Phòng K3 Công an tỉnh S, xác định: “Đoạn video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung. Thời lượng của đoạn video là 01 phút 19 giây (đoạn video do chị Nguyễn Thị Ánh T1 cung cấp từ dữ liệu camera tại quán B của chị T1). Trích xuất được 36 ảnh và mô tả diễn biến nội dung vụ việc trong đoạn video gửi giám định”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện M xác định: “01 chiếc bát sứ màu đen, miệng bát có đường kính 20 cm và thiết kế hai tai cầm; chiều cao bát là 6,5 cm; đáy bát có đường kính 12,5 cm, bát cũ đã qua sử dụng có giá trị là 80.000 đồng (là chiếc bát bị cáo Trần Tiên L2 đã làm vỡ tại quan bia Chiến Tuyết)”.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/12/2024, bị cáo Trần Tiến L đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần cho anh Vũ Đức K1 số tiền là 40.000.000 đồng. Anh K1 đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Trần Tiến L.
Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSSL-P2 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố Trần Tiến L về tội: Tội giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm: Bị cáo Trần Tiến L: Khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, bị cáo không khai báo gì thêm.
Ý kiến của bị hại Vũ Đức K1 thông qua đơn xin xét xử vắng mặt, xin giảm nhẹ mức hình phạt tù cho bị cáo Trần Tiến L và không đề nghị bị cáo bồi thường dân sự gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị K, chị Quách Thị T không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại Vũ Đức K1 số tiền là 40.000.000 đồng. Bị cáo Trần Tiến L nhất trí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố, phát biểu trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Tiến L phạm tội: Tội giết người.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tiến L từ 9 (chín) năm tù đến 10 (mười) năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Tiến L được quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận bị cáo đã tác động gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại 40.000.000 đồng; Bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác và chấp nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường trước bị hại là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 (một) cán dao dọc giấy bằng kim loại màu trắng là công cụ dùng vào việc phạm tội của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo nhất trí quyết định truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Sau khi phạm tội bị cáo Trần Tiến L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và nguyên nhân do một phần lỗi của bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giẩm nhẹ áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 57 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phật bị cáo Trần Tiến L mức án thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị là 9 (chín) năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Trần Tiến L nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không có ý kiến đối đáp, tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng xin giảm nhẹ mức hình phạt tù thấp nhất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị K, chị Quách Thị T đều nhất trí quan điểm giải quyết vụ án về phần dân sự, đều không có tranh luận đối đáp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tại liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tiến L:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát cụ thể: Do bị bị hại Vũ Đức K1 chửi và đấm vào ngực trong khi can ngăn K1 xô xát với Đinh Văn T2 và do bị hại có những lời lẽ xúc phạm đến bị cáo và vợ bị cáo. Trần Tiến L đã dùng 01 (một) cán dao dọc giấy bằng kim loại màu trắng, không rõ hình, kích thước 13 cm x 3,2 cm, đâm 02 nhát vào bụng bị hại Vũ Đức K1 gây thương tích vùng bụng tương ứng vị trí gan, dạ dày là vị trị trọng yếu của cơ thể, hậu quả tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh K1 là 54%, anh Vũ Đức K1 không chết là do được đưa đi cấp cứu kịp thời. Hành vi bị cáo thực hiện thể hiện rõ tính chất côn đồ.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Tiến L tại phiên tòa hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Kết quả điều tra, Quyết định truy tố được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 14 giờ 30 phút ngày 02/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Sơn La; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể bị hại vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 30/6/2024 tại Bệnh viện Đ, huyện M; Kết luận thực nghiệm điều tra; vật chứng thu giữ; Kết quả nhận dạng vật chứng; Biên bản nhận diện người qua ảnh; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống; các kết luận giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định đối với bị hại Vũ Đức K1 là 54%; Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; người làm chứng chị Nguyễn Thị Ánh T1 và anh Đinh Văn T2; Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa.
Từ các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Tiến L phạm tội: Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự.
[3] Tình tiết định khung hình phạt:
Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt cuộc sống, bị cáo Trần Tiến L đã sử dụng hung khí nguy hiểm là con dao dọc giấy bằng kim loại đâm vào vùng bụng, là vùng trọng yếu trên cơ thể của người bị hại Vũ Đức K1, hành vi của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Trần Tiến L về tội: Tội giết người là đúng người, đúng tội, theo quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc bị hại có hành vi đánh bị cáo và có những lời lẽ xúc phạm đến bị cáo và vợ bị cáo dẫn đến bị cáo có sự ức chế về tinh thần. Song bị cáo Trần Tiến L là người có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị cáo biết được hành vi của mình là nguy hiểm đến tính mạng cuẩ bị hại. Bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là dao tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại gây thương tích nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tiến L là hành vi trái pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người, sức khỏe tinh thần của người của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện tính chất côn đồ, coi thường sức khỏe, tính mạng của người khác, gây mất trật tự an toàn chính trị xã hội tại địa phương.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Nhân thân bị cáo phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại. Nguyên nhân phạm tội do một phần lỗi của bị hại gây ra khiến bị cáo bị kích động về tinh thần. Là những tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ không có tình tiết tăng nặng, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây hậu quả làm chết người nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, áp dụng khoản 3 Điều 57, Điều 50 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Trần Tiến L.
Căn cứ vào nhân thân bị cáo Trần Tiến L; tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân phạm tội. Xét thấy cần cách ly bị cáo Trần Tiến L ra ngoài xã hội mới đủ thời gian giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nhân đạo, nghiêm minh của pháp luật giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Bị cáo Trần Tiến L đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian tạm giam đối với bị cáo còn trên 45 ngày, cần duy trì Lệnh tạm giam số: 96/2024/HSST- QĐTG ngày 05/12/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung “phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm” được quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người được sinh ra lớn lên và cư trú ổn định tại địa phương, hiện nay không có nơi cư trú nào khác, căn cứ vào điều kiện thực tế của bị cáo không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi bị cáo phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bị cáo, bồi thường chi phí thiệt hại cho bị hại, nay xét thấy cần được chấp nhận. Bị hại Vũ Đức K1 không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã sử dụng để bồi thường trước cho bị hại, bị cáo Trần Tiến L nhất trí. Xét việc tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo, đại diện gia đình bị cáo và bị hại và nghĩa vụ hoàn trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và việc bồi thường đã thực hiện xong, bị hại không yêu cầu nên cần chấp nhận. Vận dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Đối với 01 chiếc bát sứ màu đen, bát cũ đã qua sử dụng có giá trị là 80.000 đồng là chiếc bát bị cáo Trần Tiến L đã làm vỡ của chị Nguyễn Thị Ánh T1. Chị T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cần chấp nhận yêu cầu của chị T1.
[9] Đối với thương tích của Đinh Văn T2, ngày 17/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định số: 1186/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh S giám định thương tích của anh Đinh Văn T2 tuy nhiên anh T2 đã từ chối đi giám định thương tích. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định dẫn giải anh T2 đi giám định thương tích nhưng anh T2 không chấp hành và có đơn không yêu cầu khởi tố, từ chối giám định tổn hại sức khỏe và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Đối với Vũ Đức K1 đã có hành vi cố ý gây thương tích cho Đinh Văn T2 và xô xát với Trần Tiến L ngày 11/6/2024 tại quán B. Ngày 26/8/2024, Công an huyện M, tỉnh Sơn La đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh K1 bằng hình thức phạt tiền số tiền 6.500.000 đồng, anh K1 đã chấp hành xong. Xét thấy là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[10] Về vật chứng vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) cán dao dọc giấy bằng kim loại màu trắng, không rõ hình, kích thước 13 cm x 3,2 cm, là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu KIOXIA, có dung lượng 16 GB, bên trong có chứa 01 (một) đoạn video có hình ảnh, có màu, không có âm thanh, xét đây là một thành phần của hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục quản lý, lưu giữ trong hồ sơ.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Tiến L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Tiến L, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 50, điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, khoản 3 Điều 57, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Tiến L phạm tội: Tội giết người.
Xử phạt bị cáo Trần Tiến L 9 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30 tháng 9 năm 2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Tiến L được quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự giữa bị cáo Trần Tiến L và người có quyền lợi liên quan đến vụ án và bị hại Vũ Đức K1. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ chi phí cứu chữa và thiệt hại số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), bị hại Vũ Đức K1 không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm.
Chấp nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị K, chị Quách Thị T không yêu cầu bị cáo Trần Tiến L phải hoàn trả lại số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) đã bồi thường trước cho bị hại Vũ Đức K1.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) cán dao bằng kim loại màu trắng, không rõ hình, kích thước 13 cm x 3,2 cm, không có lưỡi dao; ở giữa thiết kế rãnh kích thước 9,3 cm x 0,8 cm, trên rãnh có gắn ốc vặn bằng kim loại để điều chỉnh lưỡi dao; Một đầu cán dao thiết kế khe hở (dùng để gắn, thay lưỡi dao) kích thước 1,8 cm x 0,08 cm đựng trong 01 (một) chiếc phong bì nguyên niêm phong,
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Trần Tiến L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/01/2025./.
Bị hại Vũ Đức K1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo thủ tục hợp lệ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án theo thủ tục hợp lệ về quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Đỗ Tuấn Long |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Tòng Thị Hiền | Đỗ Tuấn Long |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tội giết người (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội giết người (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hoảng 19 giờ ngày 11/6/2024, Trần Tiến L cùng với Vũ Đức K1, Nguyễn Quang H2, Đinh Văn T2, Vũ Hữu T3, Mùi Văn T4 và một số thợ xây khác cùng ăn cơm, uống rượu tại nhà anh Phạm Đăng K2 ở tiểu khu T, thị trấn N, huyện M. Trong lúc ăn cơm, uống rượu K1 xảy ra mâu thuẫn với T2 về việc mời rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H2, K1 và L đi đến quán của chị Nguyễn Thị Ánh T1 (cách nhà anh K2 khoảng 100m) tiếp tục uống bia, ăn đêm và ngồi gần bàn uống nước trong quán. Một lúc sau, T4 điều khiển xe mô tô chở T2 đến ngồi ở bàn uống nước. Do trước đó có mâu thuẫn về vấn đề mời rượu nên K1 và T2 cãi nhau; K1 đi đến chỗ bàn uống nước và kéo T2 đi ra phía trước cửa quán, dùng tay đấm vào mặt T2 làm T2 bị rách da ở sống mũi chảy máu, T2 dùng tay đánh lại nhưng không trúng. Thấy vậy, Luật vào can ngăn thì bị K1 chửi và đấm một phát vào ngực, sau đó K1 và T2 không xô xát nữa. Do bị đánh, L đi đến hộp để dụng cụ làm việc của Luật tại mảnh đất trống cạnh quán bia lấy 01 (một) con dao dọc giấy bằng kim loại cất vào trong túi quần bên phải đang mặc với ý định nếu K1 còn chửi, đánh Luật nữa thì Luật sẽ dùng dao đâm K1. Sau đó, K1 và Luật vào trong quán để ăn đêm và uống bia với H2. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, vợ Luật là Quách Thị T gọi điện thoại cho L bảo Luật về nhà thì K1 nghe được và có những lời nói xúc phạm đến vợ của Luật. Luật nói lại với K1 “Anh không được nói thế”. Nghe vậy K1 kéo ghế đến ngồi sát bên cạnh Luật, dùng tay nắm vào cổ áo Luật và chửi, xúc phạm Luật. Bị K1 xúc phạm nên Luật cầm bát mỳ trên bàn hất vào mặt, ngực K1 làm bát rơi xuống nền nhà bị vỡ và đẩy K1 về phía sau rồi đứng dậy đi về phía trong quán; còn K1 đứng dậy, quay về phía Luật dùng tay túm vào áo Luật, L dùng tay phải lấy con dao dọc giấy ở trong túi quần ra dùng tay trái mở ốc khóa rồi đẩy lưỡi dao lên, sau đó vặn ốc khóa chặt lưỡi dao lại rồi tay phải cầm dao đâm một nhát trúng vào bụng K1. K1 đẩy Luật ra nhưng Luật tiếp tục lao vào dùng dao đâm trúng thêm một nhát vào bụng K1. K1 giằng co với Luật để tước con dao nhưng không được, K1 lùi về gần cửa quán thì bị vấp ngã. Lúc này, L tiếp tục áp sát, dùng dao đâm về phía K1 nhưng không trúng. Sau đó, K1 và L đứng dậy và tiếp tục giằng co với nhau, tay phải K1 cầm vào tay cầm dao của Luật thì L giật tay ra khiến lưỡi dao cứa vào ngón cái tay phải của K1. Khi ra đến sân trước cửa quán thì Khánh vật Luật ngã xuống rồi bỏ chạy, L đứng dậy không đuổi theo K1 mà đi về nhà. Thấy Luật rời đi, K1 quay lại quán và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, huyện M. Đến ngày 30/6/2024, Vũ Đức K1 có đơn trình báo đề nghị Công an huyện M, tỉnh Sơn La làm rõ vụ việc và xử lý theo quy định của pháp luật.
