|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13/12/2024
V/v tranh chấp: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Lan Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hiếu Luân và ông Lương Văn Hùng.
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 271/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/10/2024 về tranh chấp "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990 (có mặt)
Trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Trịnh Văn P, sinh năm 1977 (có mặt)
Trú tại: Thôn A, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị L và anh Trịnh Văn P kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 07/01/2015. Sau khi tổ chức đám cưới, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận thời gian đầu, đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, khác biệt về lối sống, hai bên không có tiếng nói chung. Vợ chồng chị L và anh P ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thời gian ly thân đã lâu nên chị L xin ly hôn với anh P để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị L và anh P có 02 con chung là cháu Trịnh Quý Đ, sinh ngày 17/9/2015 và cháu Trịnh Phúc L1, sinh ngày 25/5/2018. Hiện cháu Đ đang ở cùng anh P tại xã V, huyện T, TP Hà Nội, còn cháu L1 ở cùng chị L tại nhà ông ngoại ở phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L1 và giao cháu Đ cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng. Chị L đang làm nhân viên Nhà hàng DEAGUN, thu nhập bình quân 9-13 triệu đồng/1 tháng và được bố mẹ đẻ tạo điều kiện về chỗ ở cũng như hỗ trợ chị L chăm sóc cháu L1 nên có điều kiện để nuôi con. Hiện chị L đã chuyển công tác về gần nhà để đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh P không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Trịnh Văn P trình bày:
Anh P xác nhận quá trình vợ chồng kết hôn, chung sống và xảy ra mâu thuẫn từ năm 2016 như chị L đã trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, khác biệt về lối sống, không có tiếng nói chung. Chị L nhiều lần đi du lịch qua đêm từ khi con mới được 10 tháng tuổi và tự ý phá thai khiến vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Do vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh P đồng ý ly hôn với chị L để giải phóng cho cả hai bên.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trịnh Quý Đ, sinh ngày 17/9/2015 và cháu Trịnh Phúc L1, sinh ngày 25/5/2018. Sau khi vợ chồng ly thân, cuối năm 2020 anh P đưa cả hai con về xã V, huyện T sinh sống, đến đầu năm 2021 thì chị L đón cháu L1 về ngoại ở Bắc Ninh nuôi dưỡng, chăm sóc nhưng thường xuyên đi làm xa không ở cùng cháu mà gửi ông bà ngoại. Anh P đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con chung vì điều kiện sinh hoạt, học tập ở xã V, huyện T, TP Hà Nội tốt hơn, mặt khác chị L và ông ngoại không đảm bảo việc chăm sóc cho cháu L1. Hiện tại anh P làm điện lạnh tại T, thu nhập bình quân khoảng hơn 10.000.000 đồng/1 tháng và có chỗ ở ổn định nên có điều kiện để nuôi con. Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh P không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm yêu cầu xin ly hôn với anh P, đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Phúc L1, sinh ngày 25/5/2018 và giao anh P trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Quý Đ, sinh ngày 17/9/2015. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung của vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án xác định đúng và đầy đủ; Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Thường Tín thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền; Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án giải quyết trong hạn luật định; Về thu thập chứng cứ đủ và đúng theo quy định của pháp luật; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử theo đúng trình tự; Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L và xử cho chị L được ly hôn với anh Trịnh Văn P. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trịnh Phúc L1, sinh ngày 25/5/2018 ; giao anh Trịnh Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trịnh Quý Đ, sinh ngày 17/9/2015. Các bên không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên không xem xét. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự và của Đại diện Viện Kiểm sát; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Trịnh Văn P kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 07/01/2015 tại UBND xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Như vậy, hôn nhân của anh P chị L là hợp pháp theo luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Qua xác minh và các đương sự thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng chị L và anh P phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không quan tâm chăm sóc nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, khác biệt về lối sống nên không có tiếng nói chung. Cả hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng nên đề nghị được ly hôn. Xét thấy, hôn nhân của chị L và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị L là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị L và anh P có 02 con chung là cháu Trịnh Quý Đ, sinh ngày 17/9/2015 và cháu Trịnh Phúc L1, sinh ngày 25/5/2018. Xét thấy, cả chị L và anh P đều có điều kiện để nuôi con, sau khi vợ chồng ly thân từ năm 2022 cháu Đ ở cùng anh P còn cháu L1 ở cùng chị L tại nhà ông bà ngoại, việc sinh hoạt và học tập của các cháu đang ổn định, vì vậy giao cháu L1 cho chị L và giao cháu Đ cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của con chung và đảm bảo điều kiện chăm sóc tốt nhất cho các cháu. Chị L và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Chị L và anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung, công sức đóng góp và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trịnh Văn P.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trịnh Phúc L1, sinh ngày 25/5/2018 và giao anh Trịnh Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trịnh Quý Đ, sinh ngày 17/9/2015 đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn cho chị L và anh P đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Chị L và anh P có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công sức đóng góp và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Trường hợp các bên có yêu cầu và phát sinh tranh chấp thì dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0016452 ngày 16/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đoàn Lan Hương |
Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị L và anh P xin ly hôn
