Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HSST

Ngày 05 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Quang Tụng

Ông Nguyễn Chí Hùng

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu- Thư ký tòa án Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi- Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần những người hỗ trợ tổ chức phiên tòa gồm:

Những người tham gia tố tụng khác:

- Các cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm tổ chức tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và 01 điểm cầu thành phần tổ chức tại Trại tạm giam công an tỉnh P, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân các huyện, thành, thị trong tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Bùi Như N, tên gọi khác: Không, sinh năm 1987 tại Phú Thọ; nơi cư trú: Khu F xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; nơi cấp: Cục C3 về TTXH; con ông Bùi Xuân D và bà Vương Thị M; có vợ và 02 con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự:01 - Năm 2024, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 03 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, theo Quyết định số 19 ngày 19/02/2024 của UBND xã P, Thị xã P.

Nhân thân:

  • Tại Bản án số 146 ngày 30/6/2011, TAND quận Long Biên, TP . xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 23/10/1013. Đã thi hành xong các nghĩa vụ khác trong Bản án.
  • Tại Bản án số 28 ngày 29/5/2020, TAND huyện Phù Ninh xử phạt 9 tháng tù về tội Đánh bạc. Chấp hành xong ngày 09/7/2021. Đã thi hành xong các nghĩa vụ khác trong Bản án.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/06/2024 đến ngày 27/06/2024, bị áp dụng biện pháp tạm giam.

2. Bị cáo: Dương Minh N1, tên gọi khác: Không, sinh năm 1984 tại Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; cấp ngày 15/11/2022; nơi cấp: Cục C3 về TTXH con ông Dương Đình T và bà Nguyễn Thị T1; có vợ và 02 con lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án: 01 – Tại Bản án số 52 ngày 29/9/2017, TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, xử phạt 07 năm tù giam, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/10/2022. Đã thi hành xong các nghĩa vụ khác trong Bản án.

Tiền sự: 02:

  • Tháng 10/2023 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, theo Quyết định số 22 ngày 09/10/2023 của UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 09/10/2023.
  • Ngày 24/01/2024 Công an phường B, TP . xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt tiền 1.500.000đ theo Quyết định số 01 ngày 24/01/2024. N1 đã nộp phạt xong ngày 31/01/2024.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/06/2024 đến ngày 27/06/2024, bị áp dụng biện pháp tạm giam.

3. Bị cáo: Đỗ Đại T2, tên gọi khác: Không, sinh năm 1976 tại Phú Thọ; nơi cư trú: Khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; cấp ngày 04/4/2021; nơi cấp: Cục C3 về TTXH; con ông Đỗ Quang C và bà Phạm Thị Q; vợ và con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • Tại Bản án số 69 ngày 19/6/1994, TAND huyện Phong Châu xử phạt 09 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản công dân, tổng hợp với bản án số 74 ngày 30/11/1993 (phạt T2 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo), phạt T2 chấp hành chung cho cả 2 bản án là 15 tháng tù. Đã thi hành xong các nghĩa vụ khác trong Bản án.
  • Tại Bản án số 49 ngày 18/4/1996, TAND tỉnh Vĩnh Phú xử phạt 03 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản công dân. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/5/1998. Đã thi hành xong các nghĩa vụ khác trong Bản án.
  • Tại Bản án số 32 ngày 27/9/2001, TAND huyện Phù Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2003. Đã thi hành xong các nghĩa vụ khác trong Bản án.
  • Tại Bản án số 44 ngày 20/10/2014, TAND huyện Phù Ninh xử phạt 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2019. Đã thi hành xong các nghĩa vụ khác trong Bản án.

Ngoài ra, Tra cứu thông tin của T2 có thể hiện: Tại Bản án số 74/ST ngày 30/11/1993, bị TAND huyện Phong Châu xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân. Song, kết quả xác minh tại Toà án nhân dân huyện Phù Ninh: sổ sách thụ lý và kết quả hình sự năm 1993 lưu trữ tại Toà án nhân dân huyện Phù Ninh không thể hiện hay ghi chép về Bản án trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/06/2024 đến ngày 27/06/2024, bị áp dụng biện pháp tạm giam.

Các bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

Các bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh P tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 17/06/2024, Dương Minh N1, sinh năm 1984, trú tại: Khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ gọi điện thoại cho Đỗ Đại T2, sinh năm 1976, trú tại khu N, thị trấn P, P, tỉnh Phú Thọ nhờ dẫn đi mua ma túy Heroine về cùng nhau sử dụng. T2 đồng ý và bảo N1 đến đón T2. Sau đó, N1 mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19P1-302.93 của anh Dương Minh T3, sinh năm 1979, ở khu Đ thị trấn P, P, Phú Thọ một mình đến gặp T2. Gặp nhau, T2 lấy điện thoại của N1 gọi điện thoại cho Bùi Như N, sinh năm 1987, trú tại Khu F, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ hỏi mua 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) ma túy Heroine. N đồng ý và hẹn gặp ở gần nhà N để trao đổi mua bán ma tuý. Một lúc sau, T2 điều khiển xe mô tô chở N1 đến chỗ hẹn với N. Tại đây, T2 đưa cho N 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng). N cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô chở T2, N1 đi đến đoạn đường liên xã thuộc khu P, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thì bảo T2 và N1 xuống xe, đứng chờ. Sau đó, N một mình đi tìm mua ma túy và mua được của một người nam giới (N không biết tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực ngã ba G thuộc thị xã P, tỉnh Phú Thọ

được 03 (ba) gói ma túy đều có đặc điểm là gói giấy hai mặt màu trắng, mở ra bên trong mỗi gói đều có 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng, là ma túy Heroine, với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Trên đường về, N đã lấy ra 01 (một) gói ma túy và sử dụng hết cho bản thân ở khu vực bãi đất vắng người thuộc xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Hai gói ma túy còn lại, N quay lại chỗ hẹn tại khu P, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ và bán cho T2. T2 cầm 02 gói ma túy đưa cho N1 cất giấu và điều khiển xe chở N1 đi về. Khi đến khu vực bãi đất vắng người thuộc xã P, huyện P, N1 bảo T2 dừng xe để sử dụng ma túy. Tại đây, N1 và T2 sử dụng hết 01 (một) gói ma túy vừa mua được. Sau đó, N1 cất 01 gói ma tuý còn lại vào túi quần phía trước bên trái mình đang mặc và điều khiển xe mô tô chở T2 về nhà T2, rồi N1 cũng đi về nhà mình.

Đến hồi 00 giờ 30 phút ngày 18/06/2024, khi N1 đang điều khiển xe mô tô về nhà mình, đi đến khu vực đường thuộc khu T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Công an huyện P phối hợp Công an xã T yêu cầu dừng xe, kiểm tra. N1 đã tự nguyện lấy từ túi quần phía trước bên trái N1 đang mặc 01 gói giấy hai mặt màu trắng, mở ra bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý Heroin nêu trên giao nộp cho tổ công tác. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của N1 01 (một) điện thoại di động Samsung màu vàng (màn hình bị vỡ ở góc trên bên trái) đã qua sử dụng, lắp sim số 0868772466; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 19P1-302.93, bên trong cốp xe không có đồ vật. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Bùi Như N về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý; đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 và Bùi Như N, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh P giám định chất bột cục màu trắng thu giữ của Dương Minh N1. Tại Kết luận giám định số 857/KL-KTHS, ngày 21/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,132 gam, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

Tại Cơ quan CSĐT công an huyện P, Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 và Bùi Như N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, N1 và T2 còn khai, khi N chở N1 và T2 đi đến xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, N1 và T2 không biết N đi đâu, chỉ biết N bảo N1 và T2 đứng chờ, một lúc sau N quay lại đưa cho T2 02 gói ma tuý như đã nêu trên. Số tiền 600.000₫ N1 đưa cho T2 để mua ma tuý của N, do N1 lao động mà có.

Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 và Bùi Như N. Kết quả, N1, T2 và N đều dương tính với chất ma túy Heroine.

Quá trình điều tra, T2 và N tự nguyện giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, lắp sim số 0786.714.613 của T2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ đen, lắp sim số 0982.509.024 của N.

Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, gắn sim thuê bao số 0868772466 của N1 và 02 điện thoại của T2, N, kết quả: trong điện thoại của N1 và T2 có các cuộc gọi với nhau để rủ nhau đi mua ma tuý và cuộc gọi với N để trao đổi mua bán ma tuý như nội dung nêu trên. Trong điện thoại của N, không có lịch sử liên hệ, N khai dùng điện thoại lắp sim này để trao đổi mua bán ma tuý với T2 như nội dung nêu trên, nhưng N đã xoá hết lịch sử cuộc gọi.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19P1-302.93, Cơ quan điều tra xác minh chủ sở hữu là anh Trần Công C1, sinh năm 1998, trú tại: khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (là cháu của anh Dương Minh T3). Anh C1 và anh T3 khai: anh C1 không có mối quan hệ gì với N1, còn anh T3 là bạn của N1. Ngày 17/6/2024 anh C1 cho anh T3 mượn xe mô tô trên để anh T3 đi làm. Sau đó, N1 hỏi mượn anh T3 xe mô tô để đi có việc. Anh C1 và anh T3 không biết N1 sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma tuý. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã trả xe mô tô trên cho anh Trần Công C1.

Về nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do các bị cáo không có việc làm ổn định, lại sử dụng ma túy nên đã mua ma túy để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.

Vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án:

Số chất bột, cục màu trắng hoàn trả lại cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong tại Bì số 857/KL-KTHS của phòng KTHS Công an tỉnh P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, lắp sim số 0868.772.466; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ đen, lắp sim số 0982.509.024; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, lắp sim số 0786.714.613; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19P1-302.93. Vật chứng đã xử lý: Cơ quan điều tra đã

trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 19P1-302.93 cho anh Trần Công C1. Các vật chứng còn lại được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện P.

Xác minh về tài sản, thu nhập của các bị cáo:

Bị cáo T2, N không có tài sản riêng gì. Bị cáo N1 và vợ là chị Võ Thị H là chủ sử dụng thửa đất số 87, tờ bản đồ số 15, diện tích 140m² và chủ sở hữu 01 ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất.

Thu nhập bình quân đầu người năm 2023 trên địa bàn xã T là 36.000.000 đồng/01 người/01 năm, thị trấn P là 50.000.000 đồng/01 người/01 năm, xã P năm 2023 là 42.000.000 đồng/01 người/01 năm.

Quá trình điều tra, các bị cáo Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 và Bùi Như N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người liên quan đến vụ án và các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSPN ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Bùi Như N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Dương Minh N1 và bị cáo Đỗ Đại T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa,

Bị cáo N, N1, T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Như N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Như N từ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Dương Minh N1 từ 27 (Hai mươi bảy) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Đại T2 từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

  • Tịch thu, tiêu hủy: 0,099 gam bột, cục màu trắng hoàn trả lại cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong tại Bì số 857/KL-KTHS của phòng KTHS Công an tỉnh P; 01 sim điện thoại số 0868.772.xxx, 01 sim điện thoại số 0982.509.xxx, 01 sim điện thoại số 0786.714.xxx.
  • Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đã qua sử dụng của Dương Minh N1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ đen đã qua sử dụng của Bùi Như N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng của Đỗ Đại T2.

Buộc các bị cáo Bùi Như N, Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, người tham gia tố tụng đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Vào hồi 00 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, tại khu T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 đã có hành vi tàng trữ 0,132 gam ma túy loại Heroine để nhằm mục đích sử dụng, bị Công an huyện P phát hiện, thu giữ. Nguồn gốc ma tuý là Bùi Như N bán cho N1 và T2 02 gói ma tuý vào tối ngày 17/6/2024 tại khu P, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ với giá 600.000đ, N1 và T2 đã cùng sử dụng 01 gói ma tuý (không xác định được trọng lượng), còn 01 gói ma tuý có trọng lượng 0,132 gam nêu trên đã bị thu giữ.

Hành vi của Bùi Như N là độc lập trong cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Dương Minh N1 và Đỗ Đại T2 là đồng phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, trong đó vai trò của N1 là người khởi xướng, cung cấp tiền mua ma tuý, T2 giúp sức tích cực trong việc chở N1 đi tìm nguồn mua ma tuý, sau đó cùng nhau sử dụng.

Như vậy, hành vi phạm tội của Bùi Như N phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, hành vi phạm tội của Dương Minh N1 và Đỗ Đại T2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015

Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...”

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...;

b) ...;

c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ...”

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về mua bán chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, việc mua bán trái phép chất ma túy gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, là nguồn gốc của các tệ nạn xã hội. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình.

Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Bùi Như N có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử 01 lần về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 01 lần về tội đánh bạc, có 01 tiền sự năm 2024 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; bố đẻ bị cáo là ông Bùi Xuân D được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất nên bị cáo N được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

Bị cáo Dương Minh N1 chưa được xóa án tích do bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy; có 02 tiền sự trong đó 01 lần áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, 01 tiền sự xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; bố đẻ bị cáo là ông Dương Đình T được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang Hạng Nhất nên bị cáo N1 được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

Bị cáo Đỗ Đại T2 có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử 04 lần trong đó 01 lần về tội “Cướng đoạt tài sản công dân”, 01 lần về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, 01 lần về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 lần về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần và xử phạt vi phạm hành chính nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội nên các bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình, nên lần phạm tội này cần thiết xử phạt các bị cáo hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, căn căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, Điều 251 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo đều là lao động tự do không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với Số chất bột, cục màu trắng hoàn trả lại cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong tại Bì số 857/KL-KTHS của phòng KTHS Công an tỉnh P là vật chứng nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ đen,; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 sim điện thoại số 0868.772.xxx, 01 sim điện thoại số 0982.509.xxx, 01 sim điện thoại số 0786.714.xxx trong những chiếc điện thoại đã thu giữ của các bị cáo là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Đối với người nam giới đã bán ma túy Heroine cho N, N không rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Như N vào ngày 17/06/2024 xảy ra tại địa phận xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan CSĐT Công an huyện P có công văn đề nghị Công an xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền, là phù hợp.

Đối với anh Trần Công C1 và anh Dương Minh T3, khi cho N1 mượn xe, hai anh không biết N1 sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện P không xem xét xử lý.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về các căn cứ pháp luật, đề xuất về hình phạt, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp.

[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

Tuyên bố bị cáo Bùi Như N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Như N 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Như N.

2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

Tuyên bố bị cáo Dương Minh N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Minh N1 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.

3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015

Tuyên bố bị cáo Đỗ Đại T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đại T2 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/6/2024.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự

  • Tịch thu, tiêu hủy: 0,099 gam bột, cục màu trắng hoàn trả lại cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong tại Bì số 857/KL-KTHS của phòng KTHS Công an tỉnh P; 01 sim điện thoại số 0868.772.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của Dương Minh N1, 01 sim điện thoại số 0982.509.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của Bùi Như N, 01 sim điện thoại số 0786.714.xxx trong chiếc điện thoại thu giữ của Đỗ Đại T2.
  • Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đã qua sử dụng của Dương Minh N1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đỏ đen đã qua sử dụng của Bùi Như N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng đã qua sử dụng của Đỗ Đại T2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh)

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

Buộc các bị cáo Bùi Như N, Dương Minh N1, Đỗ Đại T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - THA HS, DS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các Bị cáo;
  • - UBND xã Phú Hộ, TX Phú Thị, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Tiên Du, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND thị trấn Phong Châu, Phù Ninh, Phú Thọ
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Lý Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HSST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 43/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger