Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH


Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 04-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Thực

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lâm và ông Phạm Văn Ngọc

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tài - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Nhật T, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2000; tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Duy H và bà Trịnh Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Quốc V, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1976; tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức L (đã chết) và bà Hoàng Thị D (đã chết); có vợ Phạm Thị N (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không.

* Về nhân thân:

+ Ngày 24/12/1997, bị TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/HSST;

+ Ngày 17/8/2020, bị Công an xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau”;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên tòa.

3. Đinh Vương X, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1992; tại: phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân T và bà Tưởng Thị T; có vợ Trịnh Khánh L và 01 con; tiền án, tiền sự: không.

* Về nhân thân:

+ Ngày 28/11/2013, bị Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

+ Ngày 09/12/2020, bị TAND thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử phạt 22 (hai mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2020/HS-ST;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 chuyển tạm giam và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Hồng P. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 05/01/2024, Trần Nhật T liên lạc với Đinh Vương X hỏi mua 500.000 đồng ma túy hồng phiến để sử dụng và được X đồng ý bán. T liên hệ rủ Trần Quốc V (là chú của T) sử dụng ma túy. V đồng ý và thống nhất đến nhà của V để sử dụng. T nói với V đi vào Ba Đồn gặp X để lấy ma túy và lấy 50.000 đồng tiền thừa để đổ xăng. Sau đó, T chuyển số tiền 550.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng mà X cung cấp và nhắn X đưa lại 50.000 đồng cho V. V bắt xe của người đi đường vào thị xã Ba Đồn. Trên đường đi, V liên hệ với X và được X hẹn đến khu vực cầu Xưởng Cưa thuộc phường Quảng Thuận, thị xã Ba Đồn để giao ma túy. Tại đây, X giao cho V 01 túi ni lon, bên trong có 06 viên ma túy hồng phiến và 50.000 đồng. V sử dụng số tiền 50.000 đồng trên để mua nước uống, thuốc lá, rồi đưa số ma túy trên về nhà. Trong lúc V đi lấy ma túy thì T liên lạc rủ Nguyễn Hồng P đến nhà V sử dụng ma túy. P đồng ý. T đến nhà V và lấy kéo trong nhà cắt giấy bạc của vỏ bao thuốc lá thành 05 mảnh làm máng, lấy trong phòng bếp ra 01 chai nhựa trong suốt có đục một lỗ tròn ở thân chai, tại vị trí lỗ tròn có gắn tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, cuộn tròn hình ống hút (của V làm từ trước). T chuẩn bị xong dụng cụ thì P đến, cả hai cùng ngồi đợi V về. Khi V về nhà, đã thấy T và P ngồi trong nhà và chuẩn bị sẵn dụng cụ, V đưa 06 viên ma túy, nước và thuốc lá ra bỏ trên chiếu để sử dụng. T lấy 01 viên ma túy bỏ lên máng đã chuẩn bị sẵn, dùng bật lửa đốt cho cả ba người sử dụng. Khi chuẩn bị sử dụng viên thứ hai thì bị lực lượng Công an xã Quảng Tùng phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Vương X đã thu giữ 02 viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược màu hồng. Đinh Vương X khai nhận tổng số ma túy (gồm: 06 viên ma túy bán cho T và 02 viên thu giữ tại chỗ ở) là do X mua của một nam thanh niên (không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể) ở thành phố Đồng Hới vào ngày 05/01/2024 với số tiền 400.000 đồng đem về nhà nhằm mục đích bán kiếm lời.

Tại Bản kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu kí hiệu A1 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,481g (không phẩy bốn trăm tám mươi mốt gam); Mẫu kí hiệu A2 là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,185g (không phẩy một trăm tám mươi lăm gam).

* Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ:

+ 01 túi niêm phong, bên trong chứa 01 (một) bật lửa màu đỏ, trên thân máy có chữ 555 VIP, máy đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo, có cán được làm bằng nhựa, màu đỏ, dài 7,5 cm, lưỡi kéo làm bằng kim loại dài 09 cm, đã qua sử dụng; 01 chai nhựa, kích thước dài 20 cm, đáy có đường kính 05 cm, miệng có đường kính 03 cm, cách đáy chai lên giữa thân chai 04 cm được đục một lỗ thủng có gắn 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (Hai nghìn đồng), xung quanh thân chai có dán băng dính màu đen; 05 (năm) mẩu giấy bạc.

+ 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy M12, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, đã qua sử dụng; 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, bên trong chứa 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, có gắn thẻ sim số 08123194433, đã qua sử dụng.

+ Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000 đồng; 01 (một) phong bì thư, được dán kín, ghi nội dung “84/KL-KTHS”, được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,341gam (không phẩy ba trăm bốn mươi mốt gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”; toàn bộ vỏ bao gói.

Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Hồng P. Đối với số vật chứng còn lại được chuyển xử lý theo thẩm quyền.

Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSQT ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Trần Nhật T và Trần Quốc V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Đinh Vương X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Nhật T; Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Quốc V; Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Vương X; Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Nhật T và Trần Quốc V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đinh Vương X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Nhật T và Trần Quốc V mỗi bị cáo từ 07 (bảy) năm tù đên 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Xử phạt bị cáo Đinh Vương X từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong, bên trong chứa 01 (một) bật lửa màu đỏ, trên thân máy có chữ 555 VIP, máy đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo, có cán được làm bằng nhựa, màu đỏ, dài 7,5 cm, lưỡi kéo làm bằng kim loại dài 09 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chai nhựa, kích thước dài 20 cm, đáy có đường kính 05 cm, miệng có đường kính 03 cm, cách đáy chai lên giữa thân chai 04 cm được đục một lỗ thủng, xung quanh thân chai có dán băng dính màu đen; 05 (năm) mẩu giấy bạc; 01 (một) phong bì thư, được dán kín, ghi nội dung “84/KL-KTHS”, được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,341 gam (không phẩy ba trăm bốn mươi mốt gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”; toàn bộ vỏ bao gói.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy M12, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, đã qua sử dụng (Các điện thoại di động trong phong bì thư đã được niêm phong); Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000 đồng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (được niêm phong trong túi niêm phong).

Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Nhật T, Trần Quốc V và Đinh Vương X phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Các bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, hứa sẽ không bao giờ tái phạm và đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Nhật T, Trần Quốc V và Đinh Vương X đã thừa nhận và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Vào khoảng 19 giờ ngày 05/01/2024, Trần Nhật T liên lạc với Đinh Vương X hỏi mua 500.000 đồng ma túy hồng phiến và được X đồng ý bán. T liên hệ rủ Trần Quốc V và cùng thống nhất đến nhà của V để sử dụng. Sau đó, theo lời của T, V liên lạc với X và gặp X giao nhận 06 viên ma túy hồng phiến. Trong lúc V đi lấy ma túy thì T liên lạc rủ Nguyễn Hồng P đến nhà V để sử dụng ma túy. T đến nhà V tìm kiếm, chuẩn bị các dụng cụ, lấy kéo cắt giấy bạc của vỏ bao thuốc lá làm 05 cái máng. Lấy ra 01 chai nhựa trong suốt có đục một lỗ tròn ở thân chai, tại vị trí lỗ tròn có gắn tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, cuộn tròn hình ống hút có từ trước. T chuẩn bị xong dụng cụ thì P đến và cùng ngồi đợi V về. Sau khi về nhà, V đưa 06 viên ma túy, nước và thuốc lá ra bỏ trên chiếu để sử dụng. T lấy 01 viên ma túy bỏ lên máng đã chuẩn bị sẵn, dùng bật lửa đốt cho cả ba người sử dụng. Khi chuẩn bị sử dụng viên thứ hai thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Khám xét chỗ ở của Đinh Vương X, Cơ quan Công an đã thu giữ thêm 02 viên ma tuý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Xét thấy, lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa và trong giai đoạn điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng, vật chứng thu giữ; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận, các bị cáo Trần Nhật T và Trần Quốc V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đinh Vương X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và gây nên sự bức xúc, bất bình trong quần chúng nhân dân. Mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tổ chức sử dụng hay tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo nhận thức được rõ hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây tác hại, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội và bị lên án mạnh mẽ nhưng vì muốn thỏa mãn mục đích bản thân, vì hám lợi mà các bị cáo đã coi thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần quyết định một hình phạt tương xứng đối với tính chất của hành vi phạm tội, mức độ, hậu quả mà các bị cáo gây ra. Nhằm để răn đe, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và quy tắc của cuộc sống, đồng thời phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng.

[4] Xét tính đồng phạm, vị trí, vai trò của mỗi bị cáo thấy rằng: Vụ án có nhiều bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội tuy nhiên, chỉ mang tính giản đơn. Bị cáo Trần Nhật T là người liên hệ với X để mua ma tuý, khởi xướng và rủ V, P cùng sử dụng trái phép; chuẩn bị công cụ và trực tiếp tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò tích cực. Bị cáo Trần Quốc V là người trực tiếp đi lấy ma tuý, dùng nhà của mình làm địa điểm để tổ chức sử dụng ma tuý trái phép. Do vậy, các bị cáo phải bị xử lý nghiêm, với hình phạt tương xứng, phù hợp. Bị cáo Đinh Vương X là người không tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với các bị cáo mà là người thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho các bị cáo để sử dụng, vì vậy phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà mình đã thực hiện.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Trần Quốc V và Đinh Vương X là những người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử, đã bị xử lý hành chính. Bị cáo Trần Nhật T có nhân thân tốt.

[6] Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Trần Quốc V có bố, mẹ là người có công, được tặng Huân chương kháng chiến và bản thân thuộc đối tượng hưởng trợ cấp. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

[7] Đối với khai nhận của bị cáo X về việc mua ma túy từ một người đàn ông ở thành phố Đồng Hới. Tuy nhiên, X không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ thông tin, cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng này. Đối với Nguyễn Hồng P là người được Trần Nhật T rủ đến nhà Trần Quốc V để sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, P không tham gia, không đồng phạm trong việc mua bán ma túy hay tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Vì vậy, Công an huyện Quảng Trạch xử lý hành chính theo quy định.

[8] Xét quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[9] Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc các bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tại Trại giam, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo tiến bộ.

[10] Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Vật chứng đã được tạm giữ để điều tra và đã được cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định. Đến tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 (một) túi niêm phong, bên trong chứa 01 (một) bật lửa màu đỏ, trên thân máy có chữ 555 VIP, máy đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo, có cán được làm bằng nhựa, màu đỏ, dài 7,5 cm, lưỡi kéo làm bằng kim loại dài 09 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chai nhựa, kích thước dài 20 cm, đáy có đường kính 05 cm, miệng có đường kính 03 cm, cách đáy chai lên giữa thân chai 04 cm được đục một lỗ thủng, xung quanh thân chai có dán băng dính màu đen; 05 (năm) mẩu giấy bạc; 01 (một) phong bì thư, được dán kín, ghi nội dung “84/KL-KTHS”, được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,341gam (không phẩy ba trăm bốn mươi mốt gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”; toàn bộ vỏ bao gói; thẻ sim số 08123194433 (được gắn theo điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, đựng trong 01 (một) phong bì thư, đã được niêm phong). Xác định, đây là vật chứng thuộc trường hợp vật câm tàng trữ, cấm lưu hành, vật không có giá trị, không sử dụng được, vì vậy tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy M12, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, đã qua sử dụng (Các điện thoại di động trong phong bì thư đã được niêm phong). Xác định, đây là phương tiện mà các bị cáo sử dụng để liên lạc, mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 500.000 đồng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (được niêm phong trong túi niêm phong). Đây là khoản tiền mua bán ma tuý, tiền mà các bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[11] Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Nhật T, Trần Quốc V và Đinh Vương X phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Nhật T.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Quốc V.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Vương X.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Nhật T và Trần Quốc V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đinh Vương X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Trần Nhật T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 06/01/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 06/01/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Đinh Vương X 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 06/01/2024.

    Tiếp tục tạm giam các bị cáo Trần Nhật T, Trần Quốc V và Đinh Vương X với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định của Hội đồng xét xử.

  3. Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 (một) túi niêm phong, bên trong chứa 01 (một) bật lửa màu đỏ, trên thân máy có chữ 555 VIP, máy đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo, có cán được làm bằng nhựa, màu đỏ, dài 7,5 cm, lưỡi kéo làm bằng kim loại dài 09 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) chai nhựa, kích thước dài 20 cm, đáy có đường kính 05 cm, miệng có đường kính 03 cm, cách đáy chai lên giữa thân chai 04 cm được đục một lỗ thủng, xung quanh thân chai có dán băng dính màu đen; 05 (năm) mẩu giấy bạc.
      • + 01 (một) phong bì thư, được dán kín, ghi nội dung “84/KL-KTHS”, được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,341gam (không phẩy ba trăm bốn mươi mốt gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1 chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”; toàn bộ vỏ bao gói.
      • + Thẻ sim số 08123194433 (được gắn theo điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, đựng trong 01 (một) phong bì thư, đã được niêm phong).
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
      • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy M12, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu bạc, đã qua sử dụng (Các điện thoại di động trong phong bì thư đã được niêm phong).
      • + Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000 đồng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (được niêm phong trong túi niêm phong).

      Vật chứng có tình trạng, đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ngày 12/4/2024.

  4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Nhật T, Trần Quốc V và Đinh Vương X mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Báo cho các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an huyện Quảng Trạch;
  • - VKSND huyện Quảng Trạch;
  • - THADS huyện Quảng Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Ngọc Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Nhật T và đồng phạm đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo Đinh Vương X mua bán trái phép chất ma túy đủ yếu tố cấu thành tội phạm, căn cứ quy định của pháp luật Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội, quyết định hình phạt, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger