Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29-11-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.

2. Bà Phạm Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/6/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/11/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị X, sinh năm: 1982.
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1980.
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1954.
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  • 2. Bà Văn Thị H, sinh năm: 1955.
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 19/6/2024, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/7/2024, Bản tự khai ngày 15/7/2024, Biên bản hòa giải ngày 01/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị X trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ngày 08/01/2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 15 năm, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh T không chung thủy, làm mất lòng tin ở chị. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị T1, sinh ngày 24/11/2001 và cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 19/5/2010. Cháu T1 đã trưởng thành và có gia đình riêng. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 2.000.000 đồng/tháng. Hiện tại chị làm nghề thu mua sắt vụn, thu nhập trung bình 15.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung: Chị yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng gồm: Thửa đất 542, tờ bản đồ số 28 (đo đạc năm 2013), địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, ngôi nhà cấp bốn trên đất xây dựng năm 2014, bể nước và nhà tắm, các vật dụng gồm: 01 ti vi Sony, 01 tủ lạnh Tosiba, 01 máy giặt Tosiba, 01 bình nóng lạnh Ferroli, 01 bộ bàn ghế gỗ, 01 kệ ti vi bằng gỗ. Về nguồn gốc thửa đất là do ông P và bà H (bố mẹ anh T) đứng ra mua cho vợ chồng chị. Đối với các tài sản khác như mái tôn, sân bê tông, tường rào, cổng là tài sản chung của vợ chồng nhưng giá trị không đáng kể, nên chị không yêu cầu chia. Đối với ngôi nhà ngang ba gian trên đất là tài sản của ông P và bà H nên chị không yêu cầu chia. Chị đề nghị chia đôi tài sản chung theo quy định của pháp luật. Nguyện vọng của chị được chia toàn bộ thửa đất, ngôi nhà trên đất và các vật dụng trong nhà, chị sẽ thanh toán giá trị chênh lệch cho anh T và thanh toán giá trị nhà ngang cho ông P, bà H. Trường hợp không chia cho chị toàn bộ nhà đất, thì chia cho chị ½ thửa đất, chị chấp nhận lấy phần đất không có nhà, để chị làm nhà ở.

Về công nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung.

Tại Bản tự khai ngày 15/7/2024, Biên bản hòa giải ngày 01/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày như sau:

Về hôn nhân: Anh và chị Trịnh Thị X kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa ngày 08/01/2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 15 năm, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh không chung thủy với vợ, làm mất lòng tin ở chị X. Khi mâu thuẫn xảy ra, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Từ khi ly thân vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay chị X xin ly hôn, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, nên anh đồng ý ly hôn với chị X.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị T1, sinh ngày 24/11/2001 và cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 19/5/2010. Cháu T1 đã trưởng thành và có gia đình riêng. Quá trình giải quyết vụ án, anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2. Tuy nhiên, tại phiên tòa, anh xét thấy cháu T2 có nguyện vọng ở với mẹ, nên anh đồng ý giao cho chị X nuôi dưỡng cháu T2 và anh chấp nhận cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Anh thống nhất với chị X tài sản chung của vợ chồng gồm: Thửa đất 542, tờ bản đồ số 28 ở thôn T, xã Đ, ngôi nhà cấp bốn trên đất xây dựng năm 2014, bể nước và nhà tắm, các vật dụng gồm: 01 ti vi Sony, 01 tủ lạnh Tosiba, 01 máy giặt Tosiba, 01 bình nóng lạnh Ferroli, 01 bộ bàn ghế gỗ, 01 kệ ti vi bằng gỗ. Đối với các tài sản khác như mái tôn, sân bê tông, tường rào, cổng là tài sản chung của vợ chồng nhưng giá trị không đáng kể, nên anh không yêu cầu chia. Đối với ngôi nhà ngang ba gian trên đất là tài sản của ông P và bà H nên anh không yêu cầu chia. Về phương án chia: Thửa đất có nguồn gốc là của bố mẹ anh mua cho vợ chồng, nên anh yêu cầu được chia 2/3 thửa đất, chia cho chị X 1/3 thửa đất. Các tài sản còn lại anh đề nghị chia đôi theo quy định của pháp luật. Anh yêu cầu được chia toàn bộ thửa đất, các tài sản trên đất và các vật dụng trong nhà, anh sẽ thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho chị X. Đối với ngôi nhà ngang thì đồng ý cho bố mẹ tiếp tục ở cùng anh.

Về công nợ chung: Vợ chồng không có công nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 01/10/2024, Biên bản hòa giải ngày 01/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn P và bà Văn Thị Hoa T3 trình bày như sau:

Nguồn gốc thửa đất 542, tờ bản đồ số 28 (đo đạc năm 2013), địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa là do ông bà đứng ra làm thủ tục mua (xin giao đất) của UBND xã Đ, huyện Y vào tháng 11 năm 2001. Năm 2001, ông P đã nộp tiền mua đất là 3.744.000 đồng. Năm 2021, ông P mới đứng ra làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T và chị X, nộp thêm số tiền là 10.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền đã đóng là 13.744.000 đồng là tiền của ông bà. Trên thửa đất hiện có ngôi nhà ngang 03 gian lợp ngói là tài sản của ông bà xây dựng năm 2004 cho ông bà và vợ chồng anh T cùng ở. Các tài sản còn lại trên đất là của vợ chồng anh T xây dựng, tạo lập.

Quan điểm của ông bà về phân chia tài sản như sau: Về mặt pháp lý, thửa đất đứng tên anh T và chị X thì phải chia. Tuy nhiên, ông bà đề nghị xem xét nguồn gốc tài sản là của ông bà mua cho vợ chồng để chia cho anh T được 2/3 thửa đất, chị X 1/3 thửa đất. Còn các tài sản chung khác thì đề nghị chia đôi theo pháp luật. Đối với ngôi nhà ngang 3 gian của tài sản ông bà, ông bà đề nghị được tiếp tục ở trên ngôi nhà này, không chia và cũng không cho ai.

*Kết quả định giá tài sản ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản:

Thửa đất 542, tờ bản đồ số 28 (đo đạc năm 2013), tại thôn T, xã Đ có giá trị là 82.093.000 đồng; Nhà cấp bốn có giá trị 101.000.000 đồng; Nhà tắm và bể nước có giá trị là 1.900.000 đồng; Nhà ngang 3 gian của ông P và bà H có giá trị là 17.000.000 đồng; Tivi S có giá trị là 4.500.000 đồng; B nóng lạnh F có giá trị là 900.000 đồng; Máy giặt Tosiba có giá trị là 2.700.000 đồng; Tủ lạnh Tosiba có giá trị là 1.200.000 đồng; Bộ bàn ghế gỗ có giá trị là 400.000 đồng; Kệ ti vi bằng gỗ có giá trị là 500.000 đồng. Các đương sự thống nhất với kết quả định giá tài sản.

*Tại phiên tòa:

Chị X giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2 và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng tính từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về tài sản chung: Chị X trình bày chị và anh T đã tự thỏa thuận phân chia tài sản xong, nội dung thỏa thuận là: Giao cho anh T sở hữu toàn bộ tài sản chung của vợ chồng, anh T có trách nhiệm thanh toán cho chị X 150.000.000 đồng (đã thanh toán xong). Vì vậy, chị X xin rút yêu cầu chia tài sản chung, đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung.

Anh T đồng ý ly hôn, đồng ý giao cháu T2 cho chị X nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Anh T, ông P và bà H thống nhất với việc rút yêu cầu chia tài sản chung của chị X, thống nhất không yêu cầu phân chia tài sản chung.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
  • + Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, đề nghị giải quyết vụ án như sau:

Về hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 19/5/2010 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung.

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

+ Kiến nghị khắc phục vi trong quá trình giải quyết vụ án: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về thẩm quyền xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” giữa chị X và anh T là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh T là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị X và anh T đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2016. Qua phần trình bày của đương sự và xác minh tại địa phương, xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính cách, quan điểm sống của vợ chồng không hợp nhau. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã chính thức sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị X xin ly hôn, về phía anh T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên anh T đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị X và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung đã chấm dứt từ lâu, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X, xử cho chị X được ly hôn anh T.

[3] Về con chung:

Chị X và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị T1, sinh ngày 24/11/2001 và cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 19/5/2010. Cháu T1 đã trưởng thành và có gia đình riêng. Chị X có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T2. Quá trình giải quyết vụ án, anh T cũng có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T2, tuy nhiên tại phiên tòa anh T đồng ý giao cháu T2 cho chị X nuôi dưỡng. Xét thấy chị X có việc làm, có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con và cháu T2 có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, giao cháu T2 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Anh T đồng ý cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng. Xét thấy mức cấp dưỡng này là phù hợp, vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị X, buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hằng tháng, mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

[4] Về tài sản chung: Chị X khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất. Tại phiên tòa, chị X trình bày vợ chồng đã tự thỏa thuận phân chia tài sản xong, chị X xin rút yêu cầu chia tài sản chung. Anh T, ông P và bà H thống nhất với việc rút yêu cầu chia tài sản chung của chị X, thống nhất không yêu cầu chia tài sản chung. Vì vậy, HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung.

[5] Về công nợ chung: Chị X và anh T thống nhất vợ chồng không có công nợ chung, không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết 7.400.000 đồng, chị X đã nộp tạm ứng số tiền trên. Chị X tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá, không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T phải chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí:

Chị X khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Chị X rút yêu cầu chia tài sản chung nên trả lại cho chị X số tiền tạm ứng án phí chia tài sản chị X đã nộp.

Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nên phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27, Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung:
    • Chị X và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị T1, sinh ngày 24/11/2001 và cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 19/5/2010. Cháu Nguyễn Thị T1 đã trưởng thành và có gia đình riêng. Giao cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị T2.
    • Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hằng tháng, mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
    • Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
    • Vì lợi ích của con, các bên đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
  3. Về tài sản chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung.
  4. Về công nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Về án phí:
    • Chị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị X đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo Biên lai thu số 0003567 ngày 25/6/2024. Chấp nhận chị X đã nộp đủ án phí ly hôn.
    • Trả lại cho chị X số tiền tạm ứng án phí chia tài sản chị X đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định gồm: 8.325.000 đồng (Tám triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003568 ngày 25/6/2024 và 2.052.000 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0003583 ngày 12/7/2024.
    • Anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Định;
  • - UBND xã Định Tiến, huyện Yên Định;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị X ly hôn anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger