Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VÕ NHAI

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HS-ST

Ngày 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Xuân và ông Nguyễn Thành Nhật.

Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cảnh, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 24/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 06/11/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân B

tên gọi khác: không; sinh ngày 02/3/1970, tại Bắc Kạn; nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Hà Thị D; có vợ là Chu Thị V, sinh năm 1977; có 02 con.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1994, nơi cư trú: tổ dân phố số A, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, có đơn xin xử vắng mặt;

- Người làm chứng:

  • + Chị Chu Thị V, sinh năm 1977,
  • + Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1997,
  • + Chị Vũ Thị Út T1, sinh năm 1988,
  • + Anh Nông Việt K, sinh năm 1970,
  • Cùng nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên;
  • + Anh Lý Văn P, sinh năm 1987, nơi cư trú: xóm K, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên;
  • + Anh Chu Văn T2, sinh năm 1979, nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên;
  • + Anh Hà Thanh T3, sinh năm 1978, nơi cư trú: tổ dân phố số A, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

(Những người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 20/5/2024, tổ công tác của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện V thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại đoạn đường Quốc lộ 1B thuộc địa phận xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 34H-004.13 do anh Chu Văn T2 điều khiển và xe ô tô biển kiểm soát 98C-037.86 do anh Lý Văn P điều khiển có dấu hiệu vi phạm trật tự an toàn giao thông nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính và xuất trình các giấy tờ liên quan.

Anh Chu Văn T2 đã xuất trình 03 loại giấy tờ liên quan đến xe ô tô biển kiểm soát 34H-004.13 gồm: 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số No: EA 1493286 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 20-09D Công ty TNHH V1, địa chỉ xóm Đ, xã S, thành phố T cấp cho xe ô tô BKS 20F-001.89 ngày 04/01/2024 được dán trên kính lái góc bên phải của xe ô tô BKS 34H-004.13; 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 6505766 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới 20-09D Công ty TNHH V1, địa chỉ xóm Đ, xã S, thành phố T cấp cho xe ô tô BKS 20F-001.89 ngày 04/01/2024 được dán trên kính lái góc bên phải của xe ô tô BKS 34H-004.13; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô BKS 34H-004.13 có số EA 1906390 do Trung tâm Đ thuộc Công ty TNHH Đ1, Vĩnh Phúc cấp ngày 19/10/2023.

Anh Lý Văn P xuất trình 03 loại giấy tờ liên quan đến xe ô tô biển kiểm soát 98C-037.86 gồm: 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số No: DA 3525265 do Trung tâm Đ2 thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp cho xe ô tô BKS 20A – 584.90 ngày 30/01/2023, nhưng được dán lên kính lái góc bên phải người điều khiển xe ô tô BKS 98C-037.86; 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 4652235 do Trung tâm Đ2 thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp cho xe ô tô BKS 20A - 584.90 ngày 30/01/2023, nhưng được dán lên kính lái góc bên phải người điều khiển xe ô tô BKS 98C-037.86; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô BKS 98C-037.86 có số DA 1984071 do Trung tâm Đ3 chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư công nghệ Langbiang tỉnh T cấp ngày 22/6/2023.

Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra sơ bộ thấy 06 giấy tờ trên có dấu hiệu bị tẩy xóa và chỉnh sửa thông tin không đúng. Anh Chu Văn T2 và anh Lý Văn P đều khai được Nguyễn Xuân B là chủ 02 chiếc xe thuê lái và toàn bộ các giấy tờ trên đều do B để sẵn trên xe để lái xe sử dụng khi lưu hành.

Cùng ngày, Phòng C1 Công an tỉnh T đã bàn giao hồ sơ cùng vật chứng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, nơi làm việc của Nguyễn Xuân B, kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 679/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A6 là giả bằng phương pháp in phun màu.

Nguyễn Xuân B khai nhận: Bắc là chủ sở hữu 02 chiếc xe ô tô tài BKS 34H-004.13 và 98C-037.86. Trong quá trình sử dụng Bắc đã tự ý thay đổi kết cấu thành thùng xe nên đến khi hết hạn đăng kiểm không đủ điều kiện để tiếp tục đăng kiểm. Để đối phó khi gặp các lực lượng chức năng kiểm tra, nên vào khoảng cuối tháng 12/2023 B đã làm giả giấy tờ của 02 xe ô tô trên như sau:

Bắc lấy 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ dùng cho xe ô tô BKS 98C-037.86 đã hết hạn, rồi sử dụng kéo cắt các số đã in vi tính sẵn có ở nhà phù hợp với hạn đăng kiểm tiếp theo của xe, rồi dán đè lên phần ngày tháng năm bên dưới dòng chữ “Có hiệu lực hết ngày” theo chu kỳ đăng kiểm tiếp theo của xe trên Giấy chứng nhận kiểm định, B mang đến cửa hàng phô tô của anh Nguyễn Anh T thuê phô tô in màu, sử dụng bản được in màu để lái xe BKS 98C-037.86 sử dụng khi lưu hành xe.

Đối với Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô BKS 34H- 004.13, B lấy 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô BKS 99C-146.63 của B đã hết hạn, rồi cắt chữ số BKS 34H-004.13 và số ngày tháng năm bên dưới dòng chữ “Có hiệu lực hết ngày” theo chu kỳ đăng kiểm, dùng hồ dán các chữ, số phù hợp đè lên phần BKS 99C-146.63 và phần ngày tháng năm bên dưỡi dòng chữ “Có hiệu lực hết ngày” theo chu kỳ đăng kiểm tiếp trên Giấy chứng nhận này rồi mang đến cửa hàng thuê phô tô in màu, sử dụng bản in màu để lái xe BKS 34H-004.13 sử dụng khi lưu hành xe.

Bắc lấy 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ là bản thật của xe ô tô BKS 20A - 584.90, chủ xe là Nguyễn Mạnh C (con trai của B) mang đến quán phô tô thuê phô tô in màu hai mặt, sau đó B lấy bản phô tô in màu 02 Tem trên dán lên bên trên kính phải lái phía trước của xe ô tô BKS 98C-037.86 để sử dụng khi lưu hành.

Đối với 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ của xe ô tô BKS 20F-001.89 được dán lên kính lái góc bên phải của xe ô tô BKS 34H-004.13. Sáng ngày 04/01/2024 do biết anh Hà Thanh T3 mang xe ô tô BKS 20F-001.89 đi đăng kiểm định kỳ giúp anh Nông Việt K, B nảy sinh ý định mượn các giấy tờ đăng kiểm của xe ô tô BKS 20F-001.89 để phô tô in màu lấy bản giả sử dụng. Bắc nhờ anh Nguyễn Văn P1 gọi điện cho anh T3 mượn 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ của xe ô tô BKS 20F-001.89 thì được anh T3 đồng ý cho mượn. Bắc mang số giấy tờ này đến quán phô tô thuê in màu mỗi loại 01 bản giả, sau đó B trả 02 tem thật cho anh T3, rồi mang tem kiểm định an toàn kỹ thuật và tem nộp phí sử dụng đường bộ của xe ô tô BKS 20F-001.89 bản phô tô đó lên bên phải kính lái xe ô tô BKS 43H-004.13 sử dụng khi lưu hành.

Các lần phô tô in màu như trên Bắc đều mang đến quán phô tô của bà Lê Thị B1, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố số A, thị trấn Đ do anh Nguyễn Anh T (con trai bà B1) thực hiện.

Vật chứng của vụ án: - 01 chiếc kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, chiều dài 21cm, tay cầm bằng nhựa màu xanh; 01 lọ hình trụ tròn dạng ống màu vàng bên ngoài có chữ “Stick up” chiều dài 08cm, đường kính hai đầu 02 cm, một đầu rút mở được bên trong có chất dính màu trắng đục. 01 máy in nhãn hiệu Canon, loại máy Canon G2010, đã qua sử dụng. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.

- 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số No: EA 1493286 và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 6505766 do Trung tâm Đ4 thuộc Công ty TNHH V1, địa chỉ xóm Đ, xã S, thành phố T cấp ngày 04/01/2024 cho xe ô tô BKS 20F9-001.89.

- 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EA 1906390 do Trung tâm Đ thuộc Công ty TNHH Đ1, Vĩnh Phúc cấp cho xe ô tô BKS 34H-004.13.

- 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số No: DA 3525265 và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 4652235 do Trung tâm Đ2 thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 30/01/2023 cho xe ô tô BKS 20A-584.90.

- 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 1984071 do Trung tâm Đ3 thuộc Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư công nghệ Langbiang tỉnh T cấp ngày 22/6/2023 cho xe ô tô BKS 98C-037.86.

Toàn bộ 06 tài liệu trên được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 44/CT-VKSVN ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Nguyễn Xuân B về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm. Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng - 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 máy in nhãn hiệu Canon, loại máy Canon G2010, đã qua sử dụng thu giữ của anh Nguyễn Anh T.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, chiều dài 21cm, tay cầm bằng nhựa màu xanh; 01 lọ hình trụ tròn dạng ống màu vàng bên ngoài có chữ “Stick up” chiều dài 08cm, đường kính hai đầu 02 cm, một đầu rút mở được bên trong có chất dính màu trắng đục;

Lưu theo hồ sơ vụ án: 06 giấy tờ giả.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng cuối tháng 12/2023 và ngày 04/01/2024 tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Xuân B đã có hành vi làm giả 06 giấy tờ, gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ để sử dụng cho xe ô tô BKS 98C-037.86; 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ gắn lên xe ô tô BKS 98C-037.86; Làm giả 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ để sử dụng cho xe ô tô BKS 34H-004.13; 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ gắn lên xe ô tô BKS 34H-004.13, mục đích để tránh bị lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý khi tham gia giao thông.

Đến ngày 20/5/2024, B đã thuê anh Chu Văn T2 lái xe ô tô BKS 34H-004.13 và anh Lý Văn P lái xe ô tô BKS 98C-037.86 chở hàng đi giao, khi đang lưu thông trên đường QL1B đoạn đường thuộc xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh T phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện V kiểm tra phát hiện.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:

"1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm giả 06 ... tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;”...

[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính về con dấu, tài liệu.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố, mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, đã thật sự tỏ rõ sự ăn năn hối cải, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị cho hưởng mức án thấp nhất, nên xử phạt bị cáo mức án đầu khung hình phạt và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục là đủ, điều này thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội, cũng đủ khả năng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.

[7] Về hình phạt bổ sung: tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy bị cáo kinh doanh tự do, xác minh tại nơi cư trú của bị cáo xác định bị cáo hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản riêng, nhưng có một số tài sản chung có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử phạt bổ sung đối với bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về vật chứng của vụ án:

- 01 máy in nhãn hiệu Canon, loại máy Canon G2010, đã qua sử dụng thu giữ của anh Nguyễn Anh T, anh T không đồng phạm với bị cáo B, tuy nhiên hành vi của anh T vi phạm hành chính điểm c khoản 6 Điều 24 Nghị định 159/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2023 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động báo chí, xuất bản, lẽ ra Cơ quan điều tra cần chuyển vật chứng này kèm theo hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính để xử lý tịch thu phương tiện vi phạm hành chính, chiếc máy in là phương tiện liên quan đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, người liên quan không có ý kiến đề nghị gì nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- 01 chiếc kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, chiều dài 21cm, tay cầm bằng nhựa màu xanh; 01 lọ hình trụ tròn dạng ống màu vàng bên ngoài có chữ “Stick up” chiều dài 08cm, đường kính hai đầu 02 cm, một đầu rút mở được bên trong có chất dính màu trắng đục là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 06 giấy tờ giả gồm: 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ sử dụng cho xe ô tô BKS 98C-037.86; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, 01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ sử dụng cho xe ô tô BKS 34H-004.13 là vật chứng chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo cần lưu theo hồ sơ vụ án.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

[10] Về các vấn đề khác:

Đối với anh Lý Văn P điều khiển xe ô tô BKS 98C-037.86 và anh Chu Văn T2 điều khiển xe ô tô BKS 34H-004.13, anh P và anh T2 được bị cáo thuê lái xe, không biết, không được bàn bạc, giúp sức cho bị cáo trong quá trình làm giả các giấy tờ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với anh Hà Thanh Thế L người cho bị cáo mượn Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, T4 nộp phí sử dụng đường bộ của xe ô tô BKS 20F-001.89 để bị cáo phô tô in màu làm giả; Anh Nguyễn Văn P1 là người gọi điện cho anh T3 để cho bị cáo mượn giấy tờ; Anh Nông Việt K là chủ chiếc xe ô tô BKS 20F-001.89, anh K nhờ anh T3 đi đăng kiểm hộ và không biết việc anh T3 cho bị cáo mượn giấy tờ xe, xác định anh T3 và anh P1 đều không biết mục đích bị cáo mượn giấy tờ xe 20F-001.89 về làm giả giấy tờ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Mạnh C là con trai bị cáo, là chủ chiếc xe ô tô BKS 20A-584.90, anh C không biết việc bị cáo sử dụng giấy tờ đi phô tô làm giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với bà Lê Thị B1 là chủ quán phô tô có đầy đủ giấy phép hành nghề và anh Nguyễn Anh T là người trực tiếp phô tô in màu các tài liệu cho bị cáo nhưng không biết mục đích bị cáo đến phô tô in màu làm giả tài liệu để sử dụng nên hành vi của anh T không đồng phạm với bị cáo, nhưng hành vi của anh T vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt hành chính anh T, bà B1 là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với 02 xe ô tô BKS 98C-037.86 và 34H-004.13, bị cáo là chủ phương tiện đã thuê lái xe điều khiển xe vi phạm "Điều khiển xe không có giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hoặc có nhưng đã hết hạn sử dụng từ 01 tháng trở lên”; Có kích thước thùng xe không đúng với thông số kỹ thuật được ghi trong đăng kiểm”; xe ô tô BKS 98C-037.86 có dấu hiệu chở hàng vượt quá trọng tải quy định, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt hành chính là phù hợp quy định pháp luật.

[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai về áp dụng pháp luật, hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân B 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

5. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 máy in nhãn hiệu Canon G2010 màu đen đã qua sử dụng;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kéo bằng kim loại có hai lưỡi nhọn ở đầu, có chiều dài 21cm, tay cầm bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 lọ hình trụ tròn dạng ống màu vàng bên ngoài có chữ “STICK UP”, chiều dài 08cm, đường kính 02 đầu 02 cm, một đầu rút mở được bên trong có chất dính màu trắng đục.

Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 05 ngày 15/10/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.

- Lưu theo hồ sơ vụ án 06 giấy tờ giả gồm:

01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số No: EA 1493286 và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 6505766 do Trung tâm Đ4 thuộc Công ty TNHH V1, địa chỉ xóm Đ, xã S, thành phố T cấp ngày 04/01/2024 cho xe ô tô BKS 20F9-001.89.

01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EA 1906390 do Trung tâm Đ thuộc Công ty TNHH Đ1, Vĩnh Phúc cấp cho xe ô tô BKS 34H-004.13.

01 Tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số No: DA 3525265 và 01 Tem nộp phí sử dụng đường bộ số IA 4652235 do Trung tâm Đ2 thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 30/01/2023 cho xe ô tô BKS 20A-584.90.

01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 1984071 do Trung tâm Đ3 thuộc Chi nhánh Công ty cổ phần đầu tư công nghệ Langbiang tỉnh T cấp ngày 22/6/2023 cho xe ô tô BKS 98C-037.86.

6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND huyện Võ Nhai;
  • - Công an huyện Võ Nhai;
  • - Chi cục THADS huyện Võ Nhai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 43/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger