|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 43/2024/HS-ST Ngày 29-10-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Hoàng Thị Yến
Ông Nguyễn Khắc Quyết
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 18/10/2024 đối với bị cáo:
BÙI TIẾN D, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1992 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh T, sinh năm 1960, con bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1962; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC ngày 30/12/2023 của Công an xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, xử phạt D 1.500.000 đồng do đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa nộp tiền phạt) và tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 23/QĐ-UBND ngày 29/02/2024 của UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục là 03 tháng, kể từ ngày 29/02/2024 do D không phải nghiện ma túy, nhưng có dương tính với chất ma túy, loại Heroine, đã có kết quả xác minh (Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính); nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 08/12/2023 của Công an xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, D bị phạt cảnh cáo do đã thực hiện hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 15/6/2024 đến ngày 21/6/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người làm chứng: Anh Đỗ Thành L; vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện ma túy, khoảng 11 giờ ngày 15/6/2024, Bùi Tiến D thuê xe ôm (không xác định tên tuổi, địa chỉ người điều khiển xe ôm) chở đến khu vực đường T, quận L, Hải Phòng để mua ma tuý H về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, D đi vào trong ngõ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 (hai) gói giấy kích thước đồng đều nhau (3,5 x 1,5) cm, bên trong chứa ma tuý Heroine với giá 400.000 đồng. Mua xong, D cất giấu 02 gói ma túy vào túi quần dài bên phải đang mặc rồi thuê xe ôm đi về quận Đ, thành phố Hải Phòng với mục đích tìm địa điểm vắng người để sử dụng ma túy, nhằm tránh bị Lực lượng chức năng phát hiện, xử lý. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi D đang đi bộ tại khu vực cổng phụ Công viên Đ thuộc phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng thì bị Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển chủ trì, phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy thuộc Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng phát hiện thấy Bùi Tiến D có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, bắt quả tang D có hành vi cất giấu bên trong túi quần dài bên phải đang mặc 02 gói giấy, kích thước khoảng (3,5 x 1,5) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục, nghi là chất ma túy. D khai nhận, trong 02 gói giấy bị tạm giữ, kiểm tra đều có chứa ma túy loại Heroine do D mua về với mục đích để sử dụng cho bản thân. Nhưng chưa kịp sử dụng, đã bị phát hiện, thu giữ. Nên D bị tạm giữ cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 02 gói giấy, kích thước khoảng (3,5 x 1,5) cm bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng, dạng cục nghi là chất ma túy theo biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ cùng ngày 15/6/2024 tại trụ sở Công an phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 768MT/PC09 ngày 15/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan, đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn quản lý.
Tại Kết luận giám định số: 768/KL-KTHS(MT) ngày 16/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,60 gam, loại Heroine”.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Tiến D khai nhận toàn bộ về hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: D khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng. Ngoài lời khai của D, không còn chứng cứ nào khác. Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lý lịch, địa chỉ của người bán ma túy để D mua và và người xe ôm chở D đi mua ma túy. Nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSĐS ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Bùi Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, các tình tiết khác có liên quan như nội dung vụ án đã nêu và khai: Bị cáo làm nghề phụ xây, thu nhập 400.000 đồng/ngày, lúc có việc lúc không, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có nguồn thu nào khác. Gia đình bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo, bị cáo có ông nội được tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng; đề xuất với Hội đồng xét xử về mức hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác trong vụ án như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Tiến D từ 24 (Hai mươi tư) tháng đến 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: Khối lượng ma tuý còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 768MT/PC09 ngày 16/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan.
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D tại khu vực đường T, quận L, người xe ôm chở D đi mua ma túy do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.1] Đối với người làm chứng - Anh L đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa - không có lý do. Tuy nhiên, anh L đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
· Về tội danh, điều luật áp dụng:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định ma tuý, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do nghiện ma túy, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, tại khu vực cổng phụ Công viên Đ thuộc phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Bùi Tiến D đã có hành vi cất giấu trái phép 0,60 gam ma túy, loại Heroine (theo Kết luận giám định số: 768/KL-KTHS(MT) ngày 16/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H) với mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không còn mục đích nào khác thì bị phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung:
[3] Với hành vi nêu trên của bị cáo, xác định: Do bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép 0,60 gam Heroine”, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “..., III ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, không chấp hành pháp luật như phần lý lịch, nhân thân trong Bản án đã nêu.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội họ tên Bùi T2 được tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[6] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" của bị cáo thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trật tự an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản cáo, kinh tế gia đình của bị cáo, còn là nguyên nhân có thể làm phát sinh loại tội phạm khác. Xác định loại hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã 03 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cùng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, trong đó có 02 tiền sự do chưa nộp 1.500.000 đồng tiền phạt tại Quyết định số 10/QĐ-XPHC ngày 30/12/2023 của Công an xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 23/QĐ-UBND ngày 29/02/2024 của UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục là 03 tháng, kể từ ngày 29/02/2024. Thể hiện bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng bản thân, xác định bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần bắt bị cáo phải tiếp tục cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, do bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có nguồn thu nào khác. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, không phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ, được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
- Về các biện pháp tư pháp:
[8] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) bì giấy có dấu niêm phong số 768MT/PC09 ngày 15/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
- Các vấn đề khác:
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Đối với người đàn ông đã bán ma túy để D mua và người xe ôm chở D đi mua ma túy, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra. Vì vậy, không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Tiến D 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 15/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chất ma túy sau giám định cùng vỏ bao gói có dấu niêm phong số 768MT/PC09 ngày 15/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Tiến D tàng trữ trái phép chất ma túy
