|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2024/HS-ST. Ngày: 29-10-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoàng Việt
2. Ông Trần Huy Tùng
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 08/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 09/10/2024 đối với bị cáo:
Lý Minh L
(tên gọi khác: Không có), sinh ngày 08/9/2002 tại: Huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn T và bà Võ Thị Ngọc B; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Triệu V; Con: Không có; Tiền án, Tiền sự: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/7/2024 đến nay (Bị cáo có mặt).
* Bị hại: Diệp Văn T1; Sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Hoàng Văn Q, Là Luật sư văn phòng H3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S (có mặt);
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Lý Thanh T2; Sinh năm 1963; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- - Diệp Thị C; Sinh năm 1950; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
* Người làm chứng:
- - Võ Thị Ngọc B; Sinh năm 1970; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- - Đặng Thị H; Sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- - Diệp Thị D; Sinh năm 1970; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- - Trần Thúy H1; Sinh năm 1987; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
- - Diệp Minh T3; Sinh năm 2011; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
Người đại diện hợp pháp của Diệp Minh T3: Đặng Thị H; Sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- - Lý Văn P; Sinh năm 1969; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do xảy ra mâu thuẫn tranh chấp đất đai từ trước giữa hai anh em là ông Lý Văn T (cha của bị cáo Lý Minh L) và ông Diệp Văn T1 nên vào khoảng 08 giờ, ngày 03/01/2024, ông Lý Minh L đang ngồi xem gà úp trong bội bên hông nhà của ông L thì ông L nghe cha của ông L tên Lý Văn T cải nhau với bà nội tên Diệp Thị C nhưng ông L không để ý đến việc cải nhau giữa cha ông L và bà nội về vấn đề gì. Khi đó ông L thấy ông Diệp Văn T1 (thường gọi chú ba N) cầm một cây dao dài khoảng 40cm đến 50cm, lưỡi dao màu đen, chạy từ trong nhà ông T1 ra ngoài lộ đal rồi ông T1 cầm cây dao đó chém cha ông L từ trên xuống, ông L không để ý là có trúng cha ông L không, thấy vậy ông L mới chạy vào nhà của ông L cầm lấy một cây dao tự chế (loại dao thường dùng để xắn chuối), lưỡi dao bằng kim loại dẹp màu đen, dài từ 20cm đến 30cm, cán dao bằng cây tầm vong hình tròn, dài khoảng hơn một mét, cầm dao chạy đi từ trong nhà của ông L ra đến chỗ ông T1 đang ấu đã, đánh nhau với cha ông L, ông T1 và cha ông L chỉ dùng tay để đánh nhau, chứ không có ai dùng công cụ hay hung khí gì, ông L cầm cây dao xắn chuối đâm ông T1 trúng một cái vào người ông Diệp Văn T1, ông L định đâm cái thứ 2 thì bà nội tên C đứng ra cản và giựt cây dao lại nên ông L đâm không có trúng, sau đó ông T1 bị thương ra máu nên được đưa đi cấp cứu.
Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 76/KLTTCT-TTPYST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận:
* Đối tượng giám định Diệp Văn T1:
- Các kết quả chính:
- - Sẹo vùng ngực trái, kích thước nhỏ, tổn thương gây gãy xương sườn 9 bên trái; Căn cứ Bảng 1, chương 8, Mục I.1 và Bảng 1, C1 3, Mục II.1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (Một phần trăm) và 02% (Hai phần trăm).
- - Sẹo mặt sau – trong 1/3 giữa cánh tay trái, K1; căn cứ Bảng 1, C, Mục I.2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02 % (Hai phần trăm).
- Kết luận:
- - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Diệp Văn T1 tại thời điểm giám định là: 05% (Năm phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- - Kết luận khác:
- + Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc - nhọn gây nên.
- + Tổn thương vùng ngực trái là vùng gây nguy hiểm đến tính mạng
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và những tình tiết khác:
Về vật chứng, Cơ quan điều tra thu giữ, xử lý:
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng: 01 (Một) cây dao (loại dao yếm), chiều dài 45cm, cán bằng gỗ dài 17cm, đường kính 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 28cm, mũi dao bầu (đã rỉ sét).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Diệp Văn T1 không yêu cầu bị cáo Lý Minh L bồi thường thiệt hại, nhưng bị cáo L tự nguyện nộp khắc phục và bồi thường cho bị hại số tiền là 5.000.000 đồng, bị hại không đồng ý nhận.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lý Minh L thống nhất với kết luận giám định, bị cáo khai nhận: Vào ngày 03/01/2024 khi ông đang ở nhà thì nghe cha của ông cãi nhau với bà Diệp Thị C, khi đó bị cáo thấy ông Diệp Văn T1 cầm một cây dao dài chém cha của bị cáo nhưng không biết có trúng hay không hay không nên ông mới chạy vào nhà lấy một cây dao tự chế (loại dao thường dùng để xắn chuối), chạy ra đến chỗ ông T1 đang ấu đã, đánh nhau với cha của bị cáo và bị cáo cầm cây dao đâm ông T1 trúng một cái vào người ông Diệp Văn T1 gây thương tích tổng cộng 05%.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Diệp Văn T1 thống nhất với kết luận giám định. Bị hại T1 xác định vào ngày 03/01/2024 ông có cầm dao dọn dẹp đóng phế liệu để chuẩn bị làm mái che thì ông Lý Văn T chửi ông nên ông không làm nữa và bỏ lại dao chỗ cột đúc, sau đó thì mẹ của ông là bà Diệp Thị C có cự cãi nhau với Lý Văn T nên ông ầm dao chạy ra, lúc này ông T tiếp tục chửi, trong lúc ông cầm dao chạy ra thì mẹ của ông kéo lại, còn ông T nhào vô đánh ông nên ông bỏ dao xuống và nhào vô đánh nhau với ông T, khi ông T câu giật ông xuống đất đánh nhau thì bị cáo L cầm cây cán bằng tầm vong, lưỡi bắng kim loại, đâm ông hai cái trúng vào bên hông trái gây thương tích tổng cộng 5%. Nay bị hại yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhưng xin giảm nhẹ cho bị cáo, đối với phần bồi thường thiệt hại bị hại không yêu cầu bồi thường.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Lý Thanh T2 khai nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 khi ông đi uống cà phê về thì thấy mẹ ông là Diệp Thị C cầm bó nhang rủa ông, nói ông tranh giành đất đai thì ông nói không có tranh giành đất gì hết mà ông yêu cầu trả lối đi, lúc này ông đang đứng trên lộ đal thì có Diệp Văn T1 nói chuyện với mẹ ông, sau đó ông Diệp Văn T1 lấy dao chạy lại chém ông vào đầu và lưng nhưng do dao bị rỉ sét và ông đỡ được nên chỉ xây sát ngoài da thì ông và ông Diệp Văn T1 câu giật nhau dưới đất, lúc đó cũng không có thấy L và L chém ông Diệp Văn T1 lúc nào thì ông cũng không để ý.
Trong quá trình điều tra bà Diệp Thị Công K nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 khi bà đang bán cà phê ở bến tàu thì có một người thợ hồ lại cho biết là Lý Văn T không cho con bà D1 Văn Công làm mái che phế liệu nên bà bà chạy về, khi về thấy Lý Văn T và Diệp Văn T1 cãi nhau và Diệp Văn T1 cầm dao chạy ra, trên đường đi Diệp Văn T1 bỏ dao xuống nên bà ôm Diệp Văn T1 lại nhưng không được nên Lý Văn T và Diệp Văn T1 nhào vô đánh nhau bằng tay, lúc này bị cáo L chạy lại dùng cây chĩa đâm Diệp Văn T1 01 cái trúng vào hông nên bà ôm bị cáo L lại.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Võ Thị Bích N1 khai nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 khi bà đang ở nhà sau lo công việc thì nghe người phụ nữ la trước nhà thì bà chạy ra thấy chồng bà cùng vợ chồng Diệp Văn T1 đang câu vật nhau nằm trên cỏ nên bà chạy lại nắm tay chồng của bà lại quán cà phê gần đó, còn Lý Minh L đúng gần đó không biết để làm gì.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Đặng Thị H khai nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 khi bà đang ở nhà sau khi nghe tiếng la ở trước nhà nên bà bà chạy ra thì thấy chồng bà là Diệp Văn T1 và Lý Văn T đang đánh, câu giật nhau nằm trên cỏ nên bà ôm chồng bà lại không cho đánh nhau và bà cũng không để ý L đâm chồng lúc nào, lúc này cũng có bà B vợ Lý Văn T chạy ra can.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Diệp Thị D khai nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 khi bà đang ở nhà thì thấy Lý Văn T và Diệp Văn T1 cãi nhau về việc tranh chấp đất nên bà đến Công an thị trấn T trình bày sự việc, khi bà về nhà thì nghe bà Diệp Thị C kể lại là Lý Minh L đâm Diệp Văn T1 bị thương rồi chuyển đi điều trị nên bà tiếp tục đến công an để tố giác sự việc.
Trong quá trình điều tra bà Trần Thúy H1 khai nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 bà đang bán cà phê thì thấy chú Lý Văn T và Diệp Văn T1 cự cãi nhau, đánh nhau bằng tay, còn việc chú Diệp Văn T1 bị thương tích và do ai gây ra thì bà không biết.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ông Diệp Minh T3 khai nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 khi cháu đang xem ti vi thì nghe cãi nhau trước nhà nên chạy ra xem thì thấy cha (Diệp Văn T1) và bác hai (Lý Văn T) đang đánh nhau, lúc này cháu thấy anh L cầm chĩa đâm cha cháu trúng vào hông.
Trong quá trình điều tra ông Lý Hồng P1 khai nhận: Vào sáng ngày 03/01/2024 khi ông chạy xe ngang thì vợ ông N (Diệp Văn T1) kêu cứu chồng bà nên ông dừng xe lại và chở ông Diệp Văn T1 đi bệnh viện, còn sự việc xảy ra như thế nào thì ông không có chứng kiến.
Tại Cáo trạng số 41/CT-VKSTĐ ngày 04/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với bị cáo Lý Minh L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề luận tội đối với bị cáo Lý Minh L tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Lý Minh L phạm tội “ Cố ý gây thương tích” và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo Lý Minh L từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Người bảo vệ thống nhất với tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo nhưng không có đồng ý cho bị cáo hưởng án treo vì sau khi sự việc xảy ra bị cáo cũng như gia đình bị cáo không đến xin lổi hay bồi thường cho bị hại, nếu bị cáo cho rằng tiếp cận bị hại không được thì có thể thực hiện nhiều cách khác nhưng bị cáo không thực hiện, thể hiện bị cáo không có ăn năn nếu cho bị cáo hưởng án treo là không đủ răn đe. Đối với tiền chi phí điều trị do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội xét xử không đặt ra xem xét.
Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo Lý Minh L xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt người làm chứng Diệp Thúy H2, Lý Hồng P1 tại phiên tòa. Xét sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy: Bị cáo Lý Minh L đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Bị cáo Lý Minh L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại có mâu thuẫn với nhau trước đó về việc tranh chấp đất và đến ngày 03/01/2024 khi thấy cha bị cáo và và bị hại Diệp Văn T1, cự cãi nhau nên bị cáo đã dùng cây dao đâm bị hại T1 trúng vào người bị hại gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 5%. Xét về hung khí mà bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại là cây dao là loại hung khí nguy hiểm nên bị cáo đã phạm tội thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Với tỷ lệ thương tật của bị hại là 5% nên hành vi của bị cáo đã thực hiện có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lý Minh L phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo như Cáo trạng đã truy tố.
[4] Tội phạm do bị cáo Lý Minh L đã thực hiện không những xâm hại đến sức khỏe, tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng một mức án tương xứng đối với bị cáo, để có tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thiện chí khắc phục hậu quả cho bị hại mặc dù bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng vào cơ quan Thi hành án để đảm bảo cho việc Thi hành án của bị cáo và tại phiên tòa hôm nay bị hại cũng xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và có nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sau này đồng thời cho bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam.
[6] Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đối với bị cáo, vì bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng vào cơ quan Thi hành án để đảm bảo cho việc Thi hành án của bị cáo. Xét thấy, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí cho việc điều trị của bị hại cho nên trong vụ án này không phát sinh bồi thường thiệt hại, bị hại cũng không đồng ý nhận. Do đó bị cáo sẽ không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T thu giữ 01 (Một) cây dao (loại dao yếm), chiều dài 45cm, cán bằng gỗ dài 17cm, đường kính 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 28cm, mũi dao bầu (đã rỉ sét). Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa hôm nay bị hại Diệp Văn T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí điều trị cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[9] Đối với số tiền 5.000.000 đồng bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề để đảm bảo cho việc Thi hành án của bị cáo, tuy nhiên trong vụ án này bị hại không yêu cầu bồi thường và đây là tài sản hợp pháp của bị cáo cho nên cần trả lại số tiền nêu trên cho bị cáo.
[10] Lời trình bày của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho B1 hại về việc không đồng ý cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy, như đã phân tích bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng cho nên xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sau này. Do đó việc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không đồng ý cho bị cáo được hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.
[11] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lý Minh L.
- * Tuyên bố bị cáo Lý Minh L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- * Xử phạt bị cáo Lý Minh L 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/10/2024).
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Giao bị cáo Lý Minh L cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nơi bị cáo cư trú, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự.
- * Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Diệp Văn T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí điều trị cho nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- * Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây dao (loại dao yếm), chiều dài 45cm, cán bằng gỗ dài 17cm, đường kính 14cm, lưỡi bằng kim loại dài 28cm, mũi dao bầu (đã rỉ sét).
- (Vật chứng nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024)
- - Trả lại cho bị cáo Lý Minh L số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề (Theo Biên lai thu tiền số 0001471, ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề)
- * Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử buộc bị cáo Lý Minh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng)
- * Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Công Minh |
Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 43/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Tuyên bố bị cáo Lý Minh L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. * Xử phạt bị cáo Lý Minh L 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/10/2024).
