Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐỨC PHỔ

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23- 9 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Hoà
  2. Bà Trương Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Trần Phương Duy- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2024/TLST – HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 148/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1976

Bị đơn: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1975

Cùng địa chỉ: Thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;

Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/4/2024, đơn khởi kiện bổ sung và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn S tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 1997, đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào năm 2003. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng

quan điểm, mặt khác ông S thường uống rượu và còn đánh bà. Bà và ông S đã ly thân từ năm 2022, tình cảm vợ chồng đã không còn. Do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Văn S.

Về con chung: Vợ chồng bà T và ông S có 02 con chung là Nguyễn Thới S1 sinh ngày 02/6/1998 và Nguyễn Thị Hồng X, sinh ngày 07/02/2009. Cháu S1 đã thành niên, còn cháu X đang ở với ông S nên khi ly hôn bà đồng ý giao cháu X cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng bà T có vay Ngân hàng N- chi nhánh T1 60.000.000 đồng nhưng đã trả xong khoản vay nên vợ chồng bà không còn nợ ai.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

Ông và bà T đăng ký kết hôn năm 2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, ông cũng không rõ mâu thuẫn xuất phát từ đâu. Nay đối với yêu cầu ly hôn của bà T thì ông đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng ông có hai con chung, một cháu đã thành niên, còn một cháu tên Nguyễn Thị Hồng X sinh năm 2009. Từ lúc cháu X học lớp 5 đến nay cháu X sống cùng với ông. Khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu X, không yêu cầu cấp dưỡng cho cho con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Vợ chồng ông có nợ Ngân hàng N- chi nhánh T1 nhưng đã trả nợ xong nên hiện nay không còn nợ chung.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn chưa chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị T, cho bà T được ly hôn ông Nguyễn Văn S. Về con chung: giao con chung cho ông S nuôi; tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn S ở thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự,

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông S.

[3] Về hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn S tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã P, do vậy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông S là hoàn toàn hợp pháp. Theo bà T, vợ chồng bà mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và do ông S đánh bà. Về phía ông S xác định vợ chồng có mẫu thuẫn và đồng ý ly hôn. Mặt khác bà T và ông S đã ly thân hơn 2 năm, hiện tại phần ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông S đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, cho bà T được ly hôn ông S.

[4] Về con chung: Vợ chồng bà T và ông S có 02 con chung là Nguyễn Thới S1 sinh ngày 02/6/1998 và Nguyễn Thị Hồng X, sinh ngày 07/02/2009, cháu S1 đã thành niên, còn cháu X khi ly hôn bà T và ông S đều thống nhất giao cháu X cho ông S nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu X đã trên 7 tuổi, có nguyện vọng là được sống với cha, hiện tại cháu X đang ở với ông S. Do đó để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho cháu X, Hội đồng xét xử giao cháu X cho ông S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng cho con: Ông S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T và ông S đã trả nợ Ngân hàng N- chi nhánh T1 khoản vay 60.000.000 đồng. Về phía Ngân hàng N- chi nhánh T1 cũng xác nhận vợ chồng bà T và ông S đã không còn nợ ngân hàng. Hiện tại cả hai đều khai không còn nợ ai.

[6] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị T được ly hôn ông Nguyễn Văn S.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Hồng X, sinh ngày 07/02/2009 cho ông Nguyễn Văn S được tiếp tục nuôi dưỡng. Ông S không yêu cầu cấp dưỡng cho con.

    Bà Lê Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở.

  3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Bà T và ông S khai không có.
  5. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002663 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND thị xã Đức Phổ;
  • - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phổ Phong;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Hồng Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho bà T được ly hôn ông S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger