Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/DS-ST

Ngày: 20-9-2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lãnh Văn Việt.

2. Ông Tống Đăng Mạnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57A/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 07/TB-TA ngày 04 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II đại diện khởi kiện.

Người đại diện theo ủy quyền: Do ông Nguyễn Trường G - Giám đốc chi nhánh huyện L, Bắc Giang II đại diện theo ủy quyền. Tại Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01 tháng 12 năm 2022 của Tổng Giám đốc Ngân hàng N2.

Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Văn D – Trưởng phòng Kế hoạch kinh doanh Ngân hàng N2 Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II. Theo Giấy ủy quyền số 409/NHNo-BGII-LNg ngày 28/07/2021 của ông Nguyễn Trường G Giám đốc Ngân hàng N2 Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II. Có mặt

Địa chỉ: Số G đường T, tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964. (Đã chết vào ngày 16/06/2024)
  2. Bà Đào Thị Y, sinh năm 1977.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn G, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Bà Đào Thị Y và chị Nguyễn Thị T1 vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn T:

  1. Bà Đào Thị Y, sinh năm 1977.
  2. Anh Nguyễn Châu N, sinh năm 2000.
  3. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 2003.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Bà Đào Thị Y, anh Nguyễn Châu N, chị Nguyễn Thị N1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

  1. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn G, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Cụ Nguyễn Văn L, sinh năm 1936. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/11/2023, tại bản tự khai, và các lời khai tiếp theo nguyên đơn Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, B (viết tắt là A) do người đại diện trình bày:

Ngày 19/05/2022, chị Nguyễn Thị T1 có gửi đề nghị vay vốn đến Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II (Gọi tắt là A Chi nhánh huyện L B) với mục đích vay: Đầu tư chăn nuôi. Sau khi xem xét thẩm định, A Chi nhánh huyện L đã phê duyệt số tiền cho vay số tiền là: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) tại hợp đồng tín dụng số: 2504LAV202201805 ngày 19/05/2022. Ngày 27/05/2022, A Chi nhánh huyện L đã giải ngân số tiền: 200.000.000 đồng (hai trăm triệu), kỳ hạn trả nợ:

  • + Ngày 19/05/2023 trả gốc: 40.000.000 đồng (Bốn trăm triệu) + Lãi phát sinh
  • + Ngày 19/05/2024 trả gốc: 40.000.000 đồng (Bốn trăm triệu) + Lãi phát sinh
  • + Ngày 19/05/2025 trả gốc: 40.000.000 đồng (Bốn trăm triệu) + Lãi phát sinh
  • + Ngày 19/05/2026 trả gốc: 40.000.000 đồng (Bốn trăm triệu) + Lãi phát sinh
  • + Ngày 19/05/2027 trả gốc: 40.000.000 đồng (Bốn trăm triệu) + Lãi phát sinh

- Ngày 19/05/2023 bà Nguyễn Thị T1 không trả được nợ cho ngân hàng.

Ngày 20/05/2023, A - Chi nhánh huyện L đã chuyển sang nợ quá hạn, số tiền gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu) và toàn bộ số lãi phát sinh kèm theo. Qua nhiều lần đôn đốc nhắc nhở đến nay bà Nguyễn Thị T1 vẫn chưa trả nợ cho ngân hàng. Biện pháp bảo đảm là cho vay không có tài sản bảo đảm.

Chị Nguyễn Thị T1 vay vốn tại A - Chi nhánh huyện L trên cơ sở ủy quyền của bà Đào Thị Y và ông Nguyễn Văn T cùng địa chỉ tổ dân phố L, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo giấy ủy quyền số 188/TT.CHU ngày 19/8/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C. Ông T bà Y ủy quyền cho bà T1 được thay mặt và nhân danh cho bà Y ông T thực hiện các giao dịch liên quan đến việc vay vốn tại A - Chi nhánh huyện L và cam kết chịu trách nhiệm chung về các nội dung ủy quyền.

3

Tính đến ngày 18/6/2024, tổng nợ của chị Nguyễn Thị T1, tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại A - Chi nhánh huyện L là: 220.257.041 đồng (Hai trăm hai mươi triệu hai trăm năm mươi bẩy nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó:

  • - Nợ gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu).
  • - Nợ lãi trong hạn: 17.756.164 đồng (Mười bẩy triệu bẩy trăm năm mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi tư đồng).
  • - Nợ lãi quá hạn: 2.500.877 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn tám trăm bẩy mươi bẩy đồng).

A Chi nhánh huyện L đã nhiều lần làm việc trực tiếp yêu cầu chị Nguyễn Thị T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên tại hợp đồng tín dụng số 2504LAV202201805 ngày 19/05/2022. Tuy nhiên, tính đến nay chị Nguyễn Thị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T bà Y vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho A Chi nhánh huyện L, vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với A Chi nhánh huyện L, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A Chi nhánh huyện L.

Căn cứ các nội dung nêu trên, A thông qua A Chi nhánh huyện L Bắc Giang II yêu cầu Tòa án tuyên buộc như sau:

  1. Tuyên buộc chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T và bà Đào Thị Y phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A Chi nhánh huyện L theo Hợp đồng tín dụng số 2504LAV202201805 ngày 19/05/2022 toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 18/6/2024 là: 220.257.041 đồng (Hai trăm hai mươi triệu hai trăm năm mươi bẩy nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng) và lãi đến khi giải quyết xong vụ án, Trong đó:
    • - Nợ gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm nghìn).
    • - Nợ lãi trong hạn: 17.756.164 đồng (Mười bẩy triệu bẩy trăm năm mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi tư đồng).
    • - Nợ lãi quá hạn: 2.500.877 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn tám trăm bẩy mươi bẩy đồng).

Và các khoản phí phát sinh liên quan đến khoản vay sau ngày này đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay.

4

2. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, chị Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn T và bà Đào Thị Y phải chịu lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ gốc.

Tại các biên bản lấy lời khai bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Đào Thị Y cùng trình bày:

Ngày 19 tháng 5 năm 2022, ông bà có ủy quyền cho con gái ông bà thay mặt ông bà thực hiện các giao dịch liên quan đến việc vay vốn tại ngân hàng A chi nhánh huyện L Bắc Giang II số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) việc vay tiền này là con gái ông bà vay cho ông bà để chăn nuôi, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 827696 tại thôn L, xã N (nay là Tổ dân phố L, thị trấn C), huyện L, tỉnh Bắc Giang đứng tên là Đào Thị Y mà ngân hàng A giữ là không phải tài sản thế chấp mà chỉ là tín chấp. Sau khi chị T1 nhận được số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu) Ngân hàng giải ngân thì chị T1 đã chuyển toàn bộ cho ông bà để đầu tư chăn nuôi, việc làm ăn chăn nuôi là do ông bà thực hiện chứ chị T1 không liên quan gì tới việc này. Do ảnh hưởng của dịch bệnh nên ông bà gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm ăn, phát triển kinh tế dẫn đến không có điều kiện để trả nợ cho Ngân hàng.

Việc ông bà ủy quyền cho chị T1 vay tiền là ông bà hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Do thời điểm đó ông bà không có thời gian làm thủ tục vay vốn nên phải ủy quyền cho chị T1 là con gái của ông bà thực hiện vay vốn cho ông bà. Nay Ngân hàng N2 (A), chi nhánh huyện L, Bắc Giang khởi kiện buộc ông bà và chị T1 trả số tiền gốc và toàn bộ số tiền lãi theo hợp đồng hai bên đã ký kết thì ông bà đồng ý trả, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông bà chưa thể trả nợ ngay được, ông bà đề nghị Tòa án cho ông bà trả dần.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 trình bày:

Ngày 19 tháng 5 năm 2022, chị có được bố mẹ chị là bà Đào Thị Y và ông Nguyễn Văn T có ủy quyền cho chị thay mặt bà Đào Thị Y và ông Nguyễn Văn T thực hiện các giao dịch liên quan đến việc vay vốn tại ngân hàng A chi nhánh huyện L Bắc Giang II số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu). Mục đích vay tiền này là vay cho bố mẹ chị để chăn nuôi. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 827696 tại thôn L, xã N (nay là Tổ dân phố L, thị trấn C), huyện L, tỉnh Bắc Giang đứng tên mẹ chị là bà Đào Thị Y mà ngân hàng A giữ là không phải tài sản thế chấp mà chỉ là tín chấp.

5

Do ảnh hưởng của dịch bệnh nên gia đình chị gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm ăn, phát triển kinh tế dẫn đến không có điều kiện để trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng N2 (A), chi nhánh huyện L, Bắc Giang khởi kiện buộc chị và bố mẹ chị trả số tiền 204.525.314 (Hai trăm linh bốn triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, ba trăm mười bốn đồng) tiền gốc và toàn bộ số tiền lãi theo hợp đồng hai bên đã ký kết thì chị đồng ý trả, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên gia đình chị chưa thể trả nợ ngay được, chị đề nghị Tòa án cho gia đình chị được trả dần.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Châu N, Nguyễn Thị N1 cùng trình bày:

Anh chị là con của ông Nguyễn Văn T. Vào ngày 16/6/2024, bố anh chị là ông Nguyễn Văn T đã chết. Do vậy, Tòa án đưa anh chị tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bố anh chị ông Nguyễn Văn T thì anh chị không có ý kiến gì. Anh chị được biết Ngân hàng A đang khởi kiện bố anh chị là ông Nguyễn Văn T khoản vay 220.257.041 đồng, (Trong đó nợ gốc: 200.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 17.756.164 đồng; nợ lãi quá hạn: 2.500.877 đồng) và các khoản phí phát sinh liên quan đến khoản vay sau ngày này đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay. Đối với khoản vay trên do bố anh chị đã chết quá trình vay nợ anh chị không liên quan gì đến việc vay nợ này của bố mẹ anh chị và chị Nguyễn Thị T1 tại ngân hàng A. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bố anh chị ông T cùng mẹ anh chị là bà Y và chị T1 cùng trả khoản vay trên hiện nay anh chị là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bố anh chị thì đối với khoản nợ trên anh chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu bố anh chị có tài sản anh chị được hưởng tài sản của bố anh chị để lại theo quy định thì anh chị sẽ nhận trách nhiệm cùng mẹ anh chị và chị T1 trả khoản nợ trên, nếu không có tài sản gì thì anh chị không có trách nhiệm trả. Ngoài ra anh chị không có yêu cầu hay ý kiến gì khác.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn T, cụ Nguyễn Văn L trình bày:

Cụ là bố đẻ của ông Nguyễn Văn T. Hiện nay cụ đã chuyển Thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Tòa án đưa cụ tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của con trai cụ ông Nguyễn Văn T thì cụ không có ý kiến gì. Cụ được biết anh T con trai cụ đang bị Ngân hàng A khởi kiện. Tuy

6

nhiên, cụ xác định cụ không liên quan đến vụ việc anh T bị khởi kiện. Cụ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do cụ đã lớn tuổi nên cụ xin được vắng mặt tại tất cả các phiên công khai chứng cứ và hoà giải và các phiên toà xét xử của vụ án.

Tại biên bản trình bày tại Tòa án ngày 25/6/2024 chị Đào Thị Y xác định hiện nay anh T đã chết chị xin nhận trách nhiệm trả toàn bộ số nợ tại Ngân hàng.

Chị Nguyễn Thị T1 xác định hiện nay bố chị là ông Nguyễn Văn T đã chết, việc mẹ chị nhận chịu trả toàn bộ số nợ tại A thông qua A Chi nhánh huyện L Bắc Giang II chị nhất trí và không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II ông Phạm Văn D xác nhận trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Văn T, bà Đào Thị Y, chị Nguyễn Thị T1 chưa trả được cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc và mới trả được số tiền lãi là 26.533.698 đồng (Hai mươi sáu triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn, sáu trăm chín mươi tám đồng). Đến nay Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, do trong quá trình giải quyết vụ án bà Đào Thị Y nhận chịu hoàn toàn số nợ này để trả cho Ngân hàng, Ngân hàng xác định hiện nay bà Đào Thị Y có tài sản riêng, ông Nguyễn Văn T không có tài sản gì nên nhất trí để cá nhân bà Đào Thị Y trả cho Ngân hàng toàn bộ số nợ này, đề nghị Tòa án giải quyết tuyên buộc bà Đào Thị Y trả nợ cho A Chi nhánh huyện L theo Hợp đồng tín dụng số 2504LAV202201805 ngày 19/05/2022 toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến ngày 20/9/2024 là 226.932.329 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng), Trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu), nợ lãi 26.932.329 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng) và các khoản phí phát sinh liên quan đến khoản vay sau ngày này đến thời điểm thanh toán xong toàn bộ khoản vay. Trong thời gian chưa thanh toán nợ bà Đào Thị Y phải chịu lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ gốc.

Tại phiên tòa bị đơn bà Đào Thị Y, chị Nguyễn Thị T1, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn ông Nguyễn Văn T là anh Nguyễn Châu N, chị Nguyễn Thị N1, cụ Nguyễn Văn L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người được triệu tập vắng mặt tại phiên tòa.

7

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
  • 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II.
  • 2. Buộc bà Đào Thị Y phải trả nợ cho Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II theo hợp đồng tín dụng 2504LAV202201805 ngày 19/05/2022 số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 20/9/2024 là 226.932.329 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng), Trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu), nợ lãi 26.932.329 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Đào Thị Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  • 3. Về án phí: Bà Đào Thị Y phải chịu 11.346.600 đồng (Mười một triệu, ba trăm bốn mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II số tiền 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006037 ngày 07 tháng 3 năm 2024.

8

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Đào Thị Y có địa chỉ tại Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II đối với khoản nợ của ông Nguyễn Văn T, bà Đào Thị Y, chị Nguyễn Thị T1 vi phạm hợp đồng số 2504LAV202201808 ngày 19/5/2022 đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng

Bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt những người này.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy

[2.1] Về việc ký kết hợp đồng

Hợp đồng tín dụng số: 2504LAV202201808 ngày 19/5/2022 được lập thành văn bản, ký kết giữa nguyên đơn bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, hình thức nội dung đều tuân thủ các quy định của pháp luật khi giao kết nên phù hợp quy định tại các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên có hiệu lực thi hành đối các bên tham gia. Ngân hàng đã tiến hành giải ngân theo đúng nội dung đã cam kết trong hợp đồng tín dụng nhưng bị đơn lại không thực hiện theo đúng nghĩa vụ trả nợ, vi phạm nội dung đã thỏa thuận trong Điều 7 Hợp đồng tín dụng giữa hai bên đã ký kết. Trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Nguyễn Văn T, bà Đào Thị Y có uỷ quyền có chị Nguyễn Thị T1 thay mặt ông T

9

bà Y thực hiện các giao dịch liên quan đến vay vốn tại A Chi nhánh huyện L bao gồm không giới hạn như “Thương thảo và ký kết hợp đồng tín dụng, nhận tiền vay, thực hiện các công việc liên quan đến xử lý nợ”. Việc ủy quyền được các bên lập thành văn bản được thực hợp pháp tại Ủy ban nhân dân thị trấn C. Như vậy chị T1 đã nhận sự ủy quyền của ông T bà Y để thực hiện vay vốn tại Ngân hàng là hoàn toàn hợp pháp và đúng ý chí nguyện vọng của các bên. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T1, ông T và bà Y đều xác nhận có sự ủy quyền này là đúng, mục đích ủy quyền là để vay vốn chăn nuôi kinh doanh gia đình. Sau khi được Ngân hàng giải ngân chị T1 đã chuyển toàn bộ số tiền đã vay cho ông T bà Y để ông T bà Y thực hiện đầu tư chăn nuôi. Do vậy cần xác định khoản vay này là khoản vay chung của vợ chồng bà Y, ông T số tiền vay dùng vào việc chung của gia đình. Nên bà Y, ông T và chị T1 phải trả số tiền gốc vay và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết là có căn cứ và phù hợp với các Điều 463 Bộ luật dân sự.

[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, chị T1 mới trả được một phần lãi là 26.533.698 đồng và đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán khi đến định kỳ hạn trả nợ, chị T1 chưa thanh toán được nợ gốc cho Ngân hàng. Tính đến ngày xét xử ngày 20/9/2024 thì chị T1 còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 226.932.329 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng), Trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu), nợ lãi 26.932.329 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng). Hội đồng xét xử thấy T1 đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ vào giấy ủy quyền của bà Y ông T ủy quyền cho chị T1 vay vốn tại Ngân hàng và chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật. Nên đến nay chị T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng khởi kiện chị T1, ông T và bà Y cùng phải có trách nhiệm trả khoản nợ này là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án chị T1, bà Y, ông T cũng nhất trí trả khoản nợ này. Đến nay ông T chết bà Đào Thị Y đề nghị bà nhận trách nhiệm trả toàn bộ khoản này, chị T1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T không có ý kiến gì và nhất trí để bà Y nhận trả toàn bộ khoản nợ này tại Ngân hàng, nguyên đơn A Chi nhánh huyện L cũng nhất trí để bà Y là người trả toàn bộ khoản nợ gốc và nợ lãi tại Ngân hàng. Do vậy, cần buộc bà Đào Thị Y phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả xong nợ là có căn cứ và phù hợp với Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2.3] Về yêu cầu lãi suất: Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2504LAV202201808 ngày 19/5/2022 thì lãi suất cho vay trong hạn: Ngắn hạn 9%/năm, lãi suất vay trung hạn là 10,8%/năm; thời hạn vay là 03 năm. Hội đồng

10

xét xử xét thấy, mức lãi suất cho vay và cách tính lãi theo thỏa thuận giữa nguyên đơn với bị đơn trong hợp đồng tín dụng là tự nguyện, phù hợp với quy định của Ngân hàng N3 và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017, phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên cần được chấp nhận. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, lỗi vi phạm hợp đồng thuộc về bị đơn kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên bà Đào Thị Y phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng và tiền lãi còn nợ tính đến ngày xét xử 20/9/2024 là 26.932.329 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng) và tiếp tục phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 20/9/2024) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sửdụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bà Đào Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang phát biểu tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 161, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II.
  2. Buộc bà Đào Thị Y phải trả cho Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II theo hợp đồng tín dụng số 2504LAV202201805 ngày 19/05/2022 số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 20/9/2024 là 226.932.329 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng), Trong đó: Nợ gốc: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu), nợ lãi 26.932.329 đồng (Hai mươi sáu triệu, chín trăm ba mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Đào Thị Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Trong trường hợp bà Đào Thị Y không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II thì Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài thuộc quyền sở hữu của bà Đào Thị Y theo quy định của Luật thi hành án dân sự để thu hồi nợ.
  4. Về án phí: Bà Đào Thị Y phải chịu 11.346.600 đồng (Mười một triệu, ba trăm bốn mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N2 - Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II số tiền 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0006037 ngày 07 tháng 3 năm 2024.

12

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dânsự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thihành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tạiĐiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 43/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cv
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger