Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐỨC PHỔ

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/DS-ST

Ngày: 20- 9 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỎ, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Huỳnh Thị Thuỳ Trâm
  2. Bà Trương Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Lý Tường Vy- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 115/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và số 131/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L)

Địa chỉ: LPB T, số B đường T, phường T, Quận H, thành Phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T – Quyền Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh N – Giám đốc Ngân hàng TMCP B (nay là Ngân hàng TMCP L) – Chi nhánh Q; theo Quyết định uỷ quyền số: 22060/2024/QĐ-LPBank.PC&QLRR ngày 25/07/2024 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP L.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Dương Ngọc Đ – Giám đốc P - Ngân hàng B (nay là Ngân Hàng TMCP L) Chi nhánh Q; theo Giấy ủy quyền số: 578A/2024/QĐ-LPBank.QNG ngày 10 tháng 9 năm 2024;

Bị đơn:

  • - Ông Trịnh Ngọc Đ1, sinh năm 1972
  • - Bà Đặng Thị Mỹ H, sinh năm 1979

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Trịnh Thị Tố U, sinh năm 2004
  • - Chị Trịnh Thị Thanh T1, sinh năm 2006

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;

  • - Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Đức Phổ

Địa chỉ: phường Phổ Thạnh, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Viết T2 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P.

Người đại diện của nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Thị Tố U, chị Trịnh Thị Thanh T1 vắng mặt; đại diện Ủy ban nhân dân phường P xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/6/2023, tại bản tự khai và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B, nay là Ngân hàng TMCP L, do ông Dương Ngọc Đ trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần B với ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H đã ký 4 hợp đồng vay vốn:

Khoản vay thứ nhất: Hợp đồng tín dụng số HDTD4032020402 ngày 18/11/2020, ngân hàng cho vợ chồng ông Đ1, bà H vay: 1.000.000.000 đồng, thời hạn cho vay: 180 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hồ sơ vay vốn 13%/năm; mục đích vay: Tiêu dùng mua sắm đồ dùng gia đình. Định kỳ trả gốc: trả gốc vào ngày 18 hàng tháng, số tiền gốc phải trả từ tháng 01 đến tháng thứ 179 là 5.560.000 đồng, số tiền gốc phải trả tháng 180 là 4.760.000 đồng. Ngày trả nợ gốc đầu tiên: 18/12/2020.

Khoản vay thứ hai: Hợp đồng tín dụng số HDTD4032022337 ngày 07/10/2022, ngân hàng cho vợ chồng ông Đ1, bà H vay: 500.000.000 đồng, thời hạn cho vay: 11 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hồ sơ vay vốn: 11%/năm; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh thủy hải sản. Định kỳ trả gốc: Gốc trả cuối kỳ, trả lãi vào ngày 07 hàng tháng, lãi được tính theo dư nợ gốc thực tế.

Khoản vay thứ ba: Hợp đồng tín dụng số HDTD4032022282 ngày 29/7/2022, ngân hàng cho vợ chồng ông Đ1, bà H vay 110.000.000 đồng, thời hạn cho vay: 180 tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hồ sơ vay vốn là: 12%/năm; mục đích vay: Thanh toán tiền mua sắm đồ dùng gia đình. Gốc trả vào ngày 18 hàng tháng, số tiền gốc phải trả từ tháng 01 đến tháng thứ 179 là 612.000 đồng, số tiền gốc phải trả tháng 180 là 452.000 đồng. Ngày trả nợ gốc đầu tiên: 18/08/2022.

Khoản vay thứ tư: Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 18/8/2022, ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho bà H, ông Đ1 với hạn mức 40.000.000 đồng.

Quá trình thực hiện 4 hợp đồng trên, ông Đ1, bà H chỉ mới trả ngân hàng tính đến ngày 20/9/2024, số tiền gốc: 178.580.059 đồng và tiền lãi: 361.341.009 đồng. Tính đến nay ông Đ1, bà H còn nợ ngân hàng 1.801.857.293 đồng.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 750, tờ bản đồ số 27 phường P, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: HĐTC4032020113 ngày 18/11/2020.

Do ông Đ1, bà H vi phạm cam kết trong các hợp đồng tín dụng nên ngân hàng yêu cầu bà H, ông Đ1 phải trả ngay tiền gốc và tiền lãi của bốn khoản vay trên là 1.801.857.293 đồng. Ngoài ra ông Đ1, bà H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi ông Đ1, bà H thanh toán xong nợ theo lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị phát hành thẻ.

Trường hợp ông Đ1, bà H không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 750, tờ bản đồ số 27 phường P, thị xã Đ, theo đo đạc thực tế 129,4 m² trừ phần mái hiên lấn qua không gian đất UBND phường P quản lý để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Thị Mỹ H trình bày:

Vợ chồng bà có vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B 3 hợp đồng tín dụng và 1 thẻ tín dụng, tổng cộng 1,6 tỷ. Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng bà đã trả cho ngân hàng một phần tiền gốc, tiền lãi, đến tháng 6/2023 còn nợ khoảng 1,5 tỷ. Khi vay vợ chồng bà có thế chấp thửa đất số 750 tờ bản đồ số 27 phường P. Nhà đất của vợ chồng bà, không có liên quan đến các con của bà. Đến nay ngân hàng đòi nợ, vợ chồng bà cam kết tới ngày 24/10/2023 âm lịch trả hết số nợ. Trường hợp không trả được nợ thì vợ chồng bà đồng ý xử lý tài sản thế chấp để trả nợ cho ngân hàng.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh chị Trịnh Thị Tố U, chị Trịnh Thị Thanh T1 đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường P do người đại diện là ông Nguyễn Viết T2 trình bày:

Thửa đất số 750 tờ bản đồ số 27 phường P, thị xã Đ do ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H đang quản lý, sử dụng đo đạc thực tế tăng so với diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND phường P đề nghị Tòa án chỉ chấp nhận xử lý tài sản thế chấp của ông Đ1, bà H theo hiện trạng thực tế trừ phần mái hiên phía Tây lấn ra phần không gian đất đường đi của UBND phường P.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường Phổ Thạnh chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Thị Tố U, chị Trịnh Thị Thanh T1 chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 317, 318, 319, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L) 1.801.857.293 đồng và khoản tiền lãi phát sinh, trường hợp ông Đ1, bà H không trả được nợ, ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 750 tờ bản đồ số 27 phường P, thị xã Đ, diện tích 129,4m², trừ phần mái hiên phía Tây lấn qua không gian đất UBND phường P quản lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L) có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H ở tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Thị Tố U, chị Trịnh Thị Thanh T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, UBND phường P vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ1, bà H, chị U, chị T1 và UBND phường P.

[3] Về nội dung:

Theo bốn hợp đồng mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L) với ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H đã ký kết: hợp đồng tín dụng số HDTD4032020402 ngày 18/11/2020, số tiền vay 1.000.000.000 đồng; hợp đồng số HDTD4032022337 ngày 07/10/2022, số tiền vay 500.000.000 đồng; hợp đồng số HDTD4032022282 ngày 29/07/2022, số tiền vay 110.000.000 đồng; Giấy đề nghị phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 18/08/2022, hạn mức 40.000.000 đồng; tổng cộng Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã cho ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H vay 1.650.000.000 đồng, mục đích vay: tiêu dùng mua sắm đồ dùng gia đình và bổ sung vốn kinh doanh thủy hải sản. Các hợp đồng vay trung hạn và ngắn hạn. Quá trình thực hiện các hợp đồng này, ông Đ1, bà H tính đến ngày 20/09/2024 chỉ trả số tiền gốc: 178.580.059 đồng và tiền lãi: 361.341.009 đồng.

Hội đồng xét xử xử xét thấy, hợp đồng tín dụng giữa các bên đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật nhưng ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận mà hai bên đã cam kết, không trả gốc và lãi trong nhiều kỳ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Đ1, bà H vẫn không thực hiện. Hiện tại tính đến ngày 20/9/2024 ông Đ1, bà H còn nợ ngân hàng 1.801.857.293 đồng, trong đó số tiền gốc 1.478.093.292 đồng, tiền lãi là 323.764.001 đồng. Bị đơn bà H thống nhất còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L), số tiền trên nhưng đề nghị cho vợ chồng bà thêm thời gian để trả nợ, tuy nhiên đề nghị của bà không được ngân hàng chấp nhận.

Bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1 là người cùng với bà Đặng Thị Mỹ H trực tiếp ký các hợp đồng tín dụng, đã được Tòa án thông báo về việc khởi kiện nhưng ông không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của ngân hàng. Về phía người liên quan chị Trịnh Thị Tố U, chị Trịnh Thị Thanh T1 cũng không có ý kiến tranh chấp đối với yêu cầu của ngân hàng.

Do bên vay vi phạm cam kết mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đ1, bà H phải trả 1.801.857.293 đồng và tiền lãi phát sinh là có căn cứ theo quy định tại Điều 466, 470 Bộ luật dân sự, Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Hội đồng xét xử xét thấy, theo Hợp đồng thế chấp số HĐTC4032020113 ngày 18/11/2020, thể hiện giữa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L) và bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H có ký hợp đồng thế chấp, theo hợp đồng ông Đ1, bà H đã thế chấp cho ngân hàng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 750, tờ bản đồ số 27 phường P, thị xã Đ, hợp đồng thế chấp đã được đăng ký tại Văn phòng Đ2, chi nhánh Đ3 vào ngày 18/11/2020, do vậy hợp đồng thế chấp là hoàn toàn hợp pháp. Diện tích thửa đất đo đạc thực tế 129,4 m², trên đất chỉ có mái hiên phía Tây nhà của vợ chồng bà H lấn qua phần không gian đất do UBND phường P quản lý. Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản theo hiện trạng trừ phần mái hiên lấn qua không gian đất UBND phường P quản lý nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tài sản trên đất là nhà của ông Đ1, bà H. Do vậy việc ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất 750, tờ bản đồ số 27 phường P, thị xã Đ phần mái hiên là phù hợp theo quy định tại Điều 318, 320, 323 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 8.500.000 đồng, ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L) đã nộp tạm ứng nên ông Đ1, bà H phải hoàn trả cho ngân hàng số tiền này.

[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H phải chịu 66.056.000 đồng án phí dân sự.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 318, 320, 463, 466 và 470 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Điều 91và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L), buộc bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H phải trả cho Ngân hàng TMCP L 1.801.857.293 đồng (một tỷ tám trăm lẻ một triệu tám trăm năm mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi ba đồng) trong đó số tiền gốc là 1.478.093.292 đồng, tiền lãi tính đến 20/9/2024 là 323.764.001 đồng.

    Kể từ ngày 21/9/2024 ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ.

    Trường hợp ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H không thanh toán được nợ, ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông Đ1, bà H tại 750, tờ bản đồ số 27 phường P, thị xã Đ, diện tích đo đạc thực tế là 129,4 m², trừ phần mái hiên phía Tây lấn qua phần không gian đất do UBND phường P quản lý. (sơ đồ bản vẽ kèm theo).

    Sau khi xử lý tài sản thế chấp mà không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H phải tiếp tục trả cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 8.500.000 đồng, ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L) đã nộp tạm ứng nên ông Đ1, bà H phải hoàn trả cho ngân hàng 8.500.000 đồng tiền chi phí tố tụng.
  3. Về án phí: Ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H phải chịu 66.056.000 đồng (sáu mươi sáu triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (nay là Ngân hàng TMCP L) 28.473.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005646 ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Trịnh Ngọc Đ1, bà Đặng Thị Mỹ H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã;
  • - THADS thị xã;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đoàn Thị Hồng Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 43/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của ngân hàng, buộc bị đơn bà H, ông Đ phải trả nợ vay cho ngân hàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger