Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/9/2024

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Như Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới.

Ông Nguyễn Văn Bẩy.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Lan Anh là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 124/2024/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H; địa chỉ: khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến T; địa chỉ: khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Về tình cảm: ngày 11 tháng 10 năm 2013, chị Lê Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Tiến T tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 6 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mặc dù đã được hai bên gia đình can ngăn, hòa giải và hàn gắn nhưng không có kết quả. Đến nay chị Lê Thị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và không thể khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên là Nguyễn Đức Bảo A, sinh ngày 07/7/2014 và Nguyễn Đức Thiên H1, sinh ngày 28/6/2017. Khi ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Đức Thiên H1, anh T sẽ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Đức Bảo A. Hiện nay chị làm nghề tự do, anh T làm công nhân tại Công ty T1. Cả hai đều có thu nhập hàng tháng từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, đều có khả năng nuôi con. Vì vậy, chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: vợ chồng anh chị có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: vợ chồng anh chị không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 21/6/2024, bị đơn anh Nguyễn Tiến T có quan điểm như sau:

Về tình cảm: ngày 11 tháng 10 năm 2013, chị Lê Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn với chị Lê Thị H tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Hiện nay chị Lê Thị H làm đơn khởi kiện tại Tòa án đề nghị ly hôn với anh T thì anh T có quan điểm muốn hàn gắn tình cảm gia đình để cùng nhau chăm sóc con cái, tuy nhiên nếu chị H vẫn cương quyết ly hôn thì anh T đồng ý.

Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên là Nguyễn Đức Bảo A, sinh ngày 07/7/2014 và Nguyễn Đức Thiên H1, sinh ngày 28/6/2017. Khi ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai con chung là cháu Nguyễn Đức Thiên H1Nguyễn Đức Bảo A. Anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh tại địa phương ngày 08/8/2024 như sau:

Ông Lê Hữu B (phó trưởng khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh) cho biết: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Tiến T tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 2013. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn nhưng nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì ông không nắm rõ được do anh chị không hòa giải tại địa phương. Quá trình chung sống anh T và chị H có 02 con chung là con chung là Nguyễn Đức Bảo A, sinh ngày 07/7/2014 và Nguyễn Đức Thiên H1, sinh ngày 28/6/2017. Hiện nay, anh T làm công nhân còn chị H làm nghề tự do, cả hai anh chị đều có khả năng nuôi con. Về tài sản chung và khoản nợ chung của chị H và anh T ông không nắm rõ. Nay chị H làm đơn khởi kiện xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của cháu Nguyễn Đức Bảo ANguyễn Đức Thiên H1: các cháu đều mong muốn được ở với mẹ cháu bởi cảm thấy mẹ có nhiều thời gian quan tâm, chăm sóc các cháu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về quan hệ tranh chấp: Chị Lê Thị H có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến T. Bị đơn có nơi cư trú tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Tòa án cho các đương sự; tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Bị đơn có mặt tại làm việc tại Toà án ngày 17/7/2024 còn lại đều vắng mặt các buổi làm việc khác và tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[3]Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Tiến T đăng ký kết hôn với nhau ngày 11 tháng 10 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị về chung sống với nhau tại khu T, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Hiện nay, anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống riêng của ai. Sau khi ly thân, anh chị đã được hai bên gia đình nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích chung sống không đạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của chị Lê Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Tiến T có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.

[4]Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên là Nguyễn Đức Bảo A, sinh ngày 07/7/2014 và Nguyễn Đức Thiên H1, sinh ngày 28/6/2017. Cháu A và cháu H1 hiện đang ở cùng chị H tại địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị H thể hiện nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Đức Thiên H1 do cháu H1 còn nhỏ và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Tiến T có quan điểm đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức Bảo A và cháu Nguyễn Đức Thiên H1, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy, chị H và anh T đều có công việc, thu nhập, đủ điều kiện nuôi con. Tại các buổi hòa giải cũng như phiên tòa, anh T không có mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị Lê Thị H có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận. Cần giao con chung Nguyễn Đức Thiên H1, sinh ngày 28/6/2017 cho chị Lê Thị H, cháu Nguyễn Đức Bảo A, sinh ngày 07/7/2014 cho anh Nguyễn Tiến T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.

[5]Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Tiến T.
  2. Về con chung: Chị Lê Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Đức Thiên H1, sinh ngày 28/6/2017 và anh Nguyễn Tiến T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Đức Bảo A, sinh ngày 07/7/2014 kể từ tháng 9 năm 2024 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị H, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H, anh T có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật. Chị H, anh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con chung trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
  3. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003626 ngày 18/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chị Lê Thị H đã nộp đủ tiền án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Tiến T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - UBND phường Yên Thọ;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 43/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H - Nguyễn Tiến T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger