TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 43/2024/HSST Ngày 17/9/2024 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chiến
Bà Nông Thị Liên
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trịnh Duy Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/HSST ngày 27/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 04/9/2024 đối với bị cáo:
Lữ Văn D, sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Bản C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Trình độ học vấn: không biết chữ; Họ và tên bố: Võ Văn H, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Lữ Thị V, sinh năm 1964; Vợ: Lê Thị Y, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án:
- - Bản án số 108/2010/HSST ngày 31/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 08 năm 09 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2017).
- - Bản án số 21/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp 3.770.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2018).
- - Bản án số 40/2019/HSST ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp trị giá 7.880.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2022).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Anh Phạm Mạnh C, sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.(đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/5/2024, Lữ Văn D, sinh năm 1985 ở bản C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đi xe ô tô khách từ nhà đến tỉnh Bắc Giang mục đích tìm việc làm. Khi đến tỉnh Bắc Giang, D ở cùng anh Võ Văn H1, sinh năm 1992 (em cùng mẹ khác cha với D) đang làm công nhân và ở trọ tại khu Công nghiệp S - N thuộc xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 19 giờ ngày 15/5/2024, D bắt xe khách từ huyện Y đến thành phố B mục đích để trộm cắp tài sản. Khoảng 02 giờ ngày 16/5/2024, D đi đến địa phận phường N, thành phố B trộm cắp được 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại Angel, biển kiểm soát 17K6- 4103 của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 ở thôn Q, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình, rồi điều khiển xe mô tô trộm cắp được về phòng trọ của anh H1 ngủ. Khoảng 21 giờ cùng ngày 16/5/2024, D điều khiển xe mô tô này một mình từ phòng trọ ở xã N, huyện Y đến địa bàn huyện Y để trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 17/5/2024, D điều khiển xe đi đến khu vực Trường dân tộc nội trú huyện Y thuộc tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y để xe mô tô lại ở khu vực cổng trường, sau đó đi bộ để quan sát tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 01 giờ ngày 17/5/2024, D đi đến nhà anh Phạm Mạnh C, sinh năm 1986 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, quan sát thấy điện đã tắt, cửa nhà, cửa cổng đã đóng và ở hiên gian bán mái trước cửa nhà có dựng 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Yamaha Srius, màu sơn đen-xám, biển kiểm soát 98C1- 155.64 vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa, trên yên xe có 01 chùm chìa khóa. Thấy vậy, D đi bộ vòng qua phía bên phải cổng, trèo qua tường bao phía bên phải vào khu vực để xe mô tô, lấy chìa khóa để ở trên yên xe mở khóa cổng và vẫn cắm ở ổ khóa, dắt xe mô tô ra cổng, quay lại khép cửa cổng lại, dắt xe đi ra phía ngoài đường, nổ máy và điều khiển xe mô tô đi về chỗ để xe mô tô 17K6- 4103. Sau đó, D điều khiển xe mô tô 98C1- 155.64 về phòng trọ của anh H1 ngủ, còn xe mô tô 17K6- 4103 để lại ở cổng Trường dân tộc nội trú huyện Y.
Ngày 17/5/2024, anh Phạm Mạnh C có đơn trình báo gửi Công an thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Qua xác minh ngày 17/5/2024, Công an thị trấn P thu giữ tại cổng Trường dân tộc nội trú huyện Y: 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại Angel, biển kiểm soát 17K6- 4103, số khung: RLGXA10DH5H103373, số máy: VMVA2AD103373. Sau đó, Công an thị trấn P đã bàn giao vụ việc và vật chứng đến Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền.
Cùng ngày 17/5/2024, Lữ Văn D đến Công an huyện Y đầu thú và tự nguyện giao nộp: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS gắn biển số 98C1- 155.64, 01 chìa khóa xe mô tô màu đen dập chữ YAMAHA; 01 (một) ví da màu đen, đã cũ; 99.000 đồng; 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Lữ Văn D, cấp ngày 14/11/2023; 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung, kiểu dáng Galaxy A12, mặt nắp lưng màu đen, bên trong điện thoại có gắn 02 thẻ sim in dãy số 89840200011482252689 và 8401230524156793. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Lữ Văn D, kết quả D dương tính với chất ma túy trong cơ thể.
Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Chiếc xe mô tô kiểu dáng Yamaha Srius, màu sơn đen-xám, biển kiểm soát 98C1-155.64 tại thời điểm định giá ngày 17/5/2024 là 8.400.000 đồng (tám triệu bốn trăm nghìn đồng).
Ngày 04/6/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D thực nghiệm lại hành vi trộm cắp vào ngày 17/5/2024 và cho D xác định vị trí đã trộm cắp chiếc xe mô tô của anh C. Kết quả, D xác định đúng vị trí và thực nghiệm điều tra phù hợp với lời khai của D và các tài liệu Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 27/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lữ Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lữ Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Văn D từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024. Trả lại cho bị cáo 01 ví da màu đen đã cũ bên trong có số tiền 99.000 đồng; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lữ Văn D; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ SAMSUNG. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện huyện Y; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 17/5/2024, tại gia đình anh Phạm Mạnh C, sinh năm 1986 ở tổ dân phố C, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Lữ Văn D, sinh năm 1985 ở bản C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô kiểu dáng Yamaha Srius, màu sơn đen-xám, biển kiểm soát 98C1- 155.64, trị giá 8.400.000 đồng (tám triệu bốn trăm nghìn đồng) của anh Phạm Mạnh C. Khi thực hiện hành vi trộm cắp, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại nên hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”
Trước khi thực hiện hành vi phạm tội này, bị cáo đã từng bị kết án tại Bản án số 108/2010/HSST ngày 31/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 08 năm 09 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2017).
- Năm 2018, bị cáo lại bị kết án tại bản án số 21/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp 3.770.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/10/2018). Lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”.
- Đến năm 2019, Bản án số 40/2019/HSST ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp trị giá 7.880.000 đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2022). Lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”.
Đến nay bị cáo chưa được xóa án tích lại trộm cắp tài sản với trị giá tài sản trộm cắp 8.400.000 đồng là phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
3. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã phải chịu tình tiết định khung tăng nặng nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nữa.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án..
Từ tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng nhằm giáo dục bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, không có công việc ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
4. Về hành vi khác, đối tượng khác trong vụ án:
- Lữ Văn D khai nhận đã mua 100.000 đồng tiền ma túy loại Heroin của một người đàn ông không quen biết (khoảng 40 tuổi) tại rìa đường thuộc địa phận huyện T, tỉnh Bắc Giang và sử dụng ngay tại đó nhưng D không nhớ và xác định được vị trí mua, sử dụng ma túy. Ngày 02/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã có Công văn trao đổi thông tin đến Công an huyện T để xác minh và xử lý về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” đối với Lữ Văn D theo thẩm quyền.
- Đối với anh Võ Văn H1 đã cho D ở tại phòng trọ của mình, anh H1 không biết D trộm cắp tài sản nên không phạm tội.
5. Về vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98C1- 155.64, cùng 01 chìa khóa của xe là tài sản của anh Phạm Mạnh C. Ngày 27/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Phạm Mạnh C là đúng pháp luật.
- Đối với 01 ví da màu đen đã cũ bên trong có số tiền 99.000 đồng; 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Lữ Văn D, sinh ngày 29/8/1985 ở C - T - T - Nghệ An; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ SAMSUNG là tài sản của Lữ Văn D. Các tài sản này không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17K6- 4103 là tài sản của anh Nguyễn Văn T bị trộm cắp ngày 16/5/2024 tại phường N, thành phố B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã có văn bản trao đổi thông tin về hành vi “Trộm cắp tài sản” của Lữ Văn D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để phối hợp giải quyết theo đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa liên hệ để thụ lý. Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định tách xe mô tô, cùng chìa khóa xe mô tô này ra khỏi vụ án để bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
6. Về trách nhiệm dân sự: anh Phạm Mạnh C không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.
7. Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
8. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lữ Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2024. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lữ Văn D.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại bị cáo Lữ Văn D gồm: 01 (một) ví da màu đen đã cũ; 99.000 đồng; 01(một) Căn cước công dân số [...] mang tên Lữ Văn D; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI1: 351162965499208/01, số IMEI2: 351533635499200/01, bên trong lắp 02 sim có in dãy số lần lượt là 89840200011482252689 và 8401230524156793 (được niêm phong).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lữ Văn D.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thế Đăng |
Bản án số 43/2024/HSST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 43/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lữ Văn D phạm tội trộm cắp tài sản
